vanban.org

Quyết định 02/2023/QĐCNHGT-DS — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/03/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi

nhận kết quả hòa giải ngày 13 tháng 3 năm 2023, cụ thể như sau: Bà Bùi Thị Thấm và ông Nguyễn Bá D có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp dân sự"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2023/QĐCNHGT-DSNghi Lộc, ngày 29 tháng 3 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

Căn cứ các điều 32, 33, 34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận của Ngân hàng TMCP Bưu

điện Liên Việt, ông Nguyễn Bá D và bà Bùi Thị T.

Sau khi nghiên cứu:

- Đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Ngân hàng TMCP Bưu

điện Liên Việt.

- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 13 tháng 03 năm 2023 về sự thỏa

thuận giải quyết toàn bộ tranh chấp của các bên tham gia hòa giải:

+ Ngân hàng TMCP Bưu điện L; địa chỉ: Tòa nhà Thaiholdings, số 210 Trần

Quang Khải, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền quyền: Bà Tôn Thị Quỳnh H; chức vụ: Giám

đốc phòng giao dịch Nghi Lộc - Ngân hàng bưu điện L tỉnh Nghệ An.

+ Bà Bùi Thị T, sinh năm 1963 và ông Nguyễn Bá D, sinh năm 1964; đều có

địa chỉ: xóm Lạc Hồng, xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Bá D: Bà Bùi Thị T (theo văn

bản ủy quyền ngày 10 tháng 3 năm 2023).

- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên

chuyển sang Tòa án và các tài liệu do Tòa án thu thập được theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (nếu có).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Kết quả hòa giải thành được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải

ngày 13 tháng 3 năm 2023 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành của các bên được ghi trong Biên bản ghi

nhận kết quả hòa giải ngày 13 tháng 3 năm 2023, cụ thể như sau:

Bà Bùi Thị Thấm và ông Nguyễn Bá D có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng

TMCP Bưu điện L tổng số tiền nợ tính tạm đến ngày 13/3/2023 là: Tiền nợ gốc 3.434.249.680 đồng (Ba tỷ, bốn trăm ba mươi tư triệu, hai trăm bốn mươi chín nghìn, sáu trăm tám mươi đồng); Tiền nợ lãi trong hạn là 221.659.416 đồng (Hai trăm hai mươi mốt triệu, sáu trăm năm mươi chín nghìn, bốn trăm mười sáu đồng); Tiền nợ lãi chậm trả là 21.496.790 đồng (Hai mươi mốt triệu, bốn trăm chín mươi sáu nghìn, bảy trăm chín mươi đồng). Tổng cả tiền nợ gốc và nợ lãi là 3.677.405.886 đồng (Ba tỷ, sáu trăm bảy mươi bảy triệu, bốn trăm linh năm nghìn, tám trăm tám mươi sáu đồng).

Kể từ ngày 13/3/2023 bà Bùi Thị T và ông Nguyễn Bá D còn phải tiếp tục

chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Nếu bà Bùi Thị T và ông Nguyễn Bá D không thực hiện hoặc thực hiện

không đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Bưu điện L được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm gồm:

- Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 1058, tờ

bản đồ số 07 thuộc xóm Toàn Thắng, xã Nghi D, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP297470, do UBND Huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An cấp ngày 22/01/2014 vào sổ cấp GCN: CH00744/QĐ 360/2014 mang tên ông Nguyễn Bá D và bà Bùi Thị T.

- Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 05 thuộc xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE657302, do UBND Huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An cấp ngày 20/07/2012 vào sổ cấp GCN: CH00165/QĐ 1039/2012 mang tên ông Nguyễn Bá D và bà Bùi Thị T.

- Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 161, tờ bản

đồ số 05 thuộc xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 633394, do UBND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An cấp ngày 25/12/2020 vào sổ cấp GCN: CS03886/2020 mang tên ông Nguyễn Bá D và bà Bùi Thị T. Đối với phần diện tích nhà xây dựng chồng lấn thửa đất số 162 là 5,4m2 và diện tích sân nền xây dựng chồng lấn thửa đất số 162 là 26,3m2. Tổng diện tích xây dựng chồng lấn là 31,7m2 có vị trí như sau: Phía Bắc giáp đường, kích thước 1,85m; Phía Nam giáp đường, kích thước 1,02m; Phía Tây giáp thửa đất số 161, kích thước 1,82m+10,24m+0,52; Phía Đông giáp phần đất còn lại của thửa đất số 162, kích thước 6,61m+0,15m+14,96m (Có sơ đồ kèm theo). Nay các bên đương sự thỏa thuận thống nhất tài sản thế chấp là phần diện tích xây dựng chồng lấn lên thửa đất số 162 không giải quyết.

Trong trường hợp số tiền phát mại/thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ

trả nợ cho Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt thì bà Bùi Thị T và ông Nguyễn Bá D phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Bưu điện L cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến

khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo,

kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Cỡ chữ