vanban.org

Quyết định 02/2023/QĐ-TA

TAND TX. Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 25/04/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 96,103;khoản 1 điều 104; khoản 1 điều 110 Luật xử phạt vi phạm Hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2020.

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N Q T . Thời gian chấp hành cai nghiện bắt buộc là 21 ( hai mươi mốt) tháng tại Trung tâm chữa bê ̣nh giáo du ̣c Lao đô ̣ng xa hô ̣̃ i số 1(địa chỉ: thôn K, xã H , huyện N , tỉnh T, kể từ ngày người bị áp dụng biện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 96,103;khoản 1 điều 104; khoản 1 điều 110 Luật xử phạt vi phạm Hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2020.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BỈM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02 /2023/QĐ-TABỉm Sơn, ngày 25 tháng 4 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Tạ Thị Hương

2. Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Văn Trung

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn tiến hành phiên họp xem xét,quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/QĐ-TA ngày 14 tháng 4 năm 2023, thông báo về việc hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 02 / TB-TLHS ngày 21 tháng 4 năm 2023 đối với:

Họ và tên: Ng Q T , giới tính: nam; năm sinh: 1988

CCCD số: 038088015708 , Ngày cấp: 22/7/2019 ; Nơi cấp: Cục Cảnh sát ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; Nguyên quán: xã T, huyện B, tỉnh H ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn C, phường L, thị xã B, tỉnh T ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án: Không; tiền sự: Không. Con ông: N Q H sinh năm 1957, con bà: H T T sinh năm 1965.

Anh N Q Tvắng mặt tại phiên họp.

Thành phần tham gia phiên họp:

1. Đại diện cơ quan đề nghị phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã Bỉm Sơn : Ông Phan Anh Dũng chức vụ: chuyên viên phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa ( theo giấy ủy quyền của trưởng phòng Lao động thương binh & Xã hội Bỉm Sơn ngày 21/4/2023)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn: Bà Đỗ Thị Minh - Kiểm sát viên

NHẬN THẤY:

N Q T sinh năm 1988, là đối tượng nghiện ma túy đá. N Q T đã từng cai nghiện ma túy tại nhà và có bệnh án điều trị ma túy tại bệnh viện đa khoa B. Ngày 20 tháng 9 năm 2022 N Q T có kết quả xét nghiệm dương tính với Methamphetamine, cần sa. Ngày 24 tháng 9 năm 2022 N Q T đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Đồng thời chủ tịch UBND phường L, thị xã B, tỉnh T có quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với N Q T với thời gian từ ngày 24/9/2022 đến ngày 24/9/2023. Trong thời gian cai nghiện, N Q T vẫn sử dụng trái phép chất ma túy và có biểu hiện la hét to tiếng làm ảnh hưởng đến gia đình và hàng xóm xung quanh. Ngày 14/4/2023, gia đình và công an phường L đưa N Q T đi xét nghiệm ma túy tại bệnh viện đa khoa B và có kết quả dương tính với Methamphetamine, cần xa nên gia đình đề nghị công an lập hồ sơ đưa T đi cai nghiện bắt buộc theo quy định. Ngày 04 tháng 4 năm 2023 ủy ban nhân dân phường L, thị xã B có văn bản đề nghị phòng Lao động thương binh và xã hội xem xét lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N Q T.

Ngày 06 /4 /2023 trưởng phòng lao động thương binh xã hội thị xã B đã có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh T xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N Q T.

Tại phiên họp hôm nay, đại diện phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã B đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bê ̣nh giáo du ̣c Lao đô ̣ng xa hô ̣̃ i số 1 (địa chỉ: thôn K, xã H, huyện N, tỉnh T) đối với N Q T, để T có thời gian cai nghiện, lao động và học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 18 đến 21 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B có ý kiển đồng ý với đề nghị của phòng Lao động - Thương binh và xã hội UBND thị xã B về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N Q T với thời hạn từ 18 đến 21 tháng.

XÉT THẤY:

NQ T là đối tượng nghiện chất ma túy đá . Ngày 24 tháng 9 năm 2022 Trung có quyết định của chủ tịch UBND phường L, thị xã B, tỉnh T về cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng với thời hạn cai nghiện từ ngày 24/9/2022 đến ngày 24/9/2023. Trong quá trình chấp hành quyết định về việc cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng N Q T không cai nghiện được mà vẫn sử dụng trái phép chất ma túy ngày 04/4/2023 N Q T có kết quả xét nghiệm dương tính với Methamphetamine, cần ca. Ngày 04/4/2023 UBND phường L, thị xã B có văn bản đề nghị về việc xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N Q T. Trưởng phòng Lao động thương binh & Xã hội thị xã B có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N Q T .

Xét thấy, trong thời gian cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng N Q T không cai nghiện được ma túy, khi xét nghiệm vẫn có kết dương tính với Methamphetamine, cần xa . Vì vậy, cần phải chấp nhận yêu cầu của phòng lao động thương binh xã hội thị xã B đưa N Q T đi cai nghiện ma túy bắt buộc là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Hành vi nghiện chất ma túy của N Q T gây ra nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn dân cư, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân . Vì vậy, cần thiết phải đưa T đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện bắt buộc để T có hội cai nghiện và học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: N Q T là đối tượng nghiện chất ma túy đá đã được bệnh viện đa khoa B xác định tình trạng nghiện, tự nguyện cai nghiện tại gia đình cộng đồng nhưng vẫn không cai nghiện được. N Q T không phải chịu tình tiết tăng nặng và cũng không được hưởng tình tiết giảm nhẹ nào.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 96,103;khoản 1 điều 104; khoản 1 điều 110 Luật xử phạt vi phạm Hành chính năm 2012 sửa đổi bổ sung năm 2020. Khoản 2 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 40,41,43 Nghị định số 116 hướng dẫn Luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy.

Điều 2; Điểm a khoản 1 điều 3; điều 8; điều 17; điều 21; điều 32 pháp lệnh số 03/2022/ UBTVQH 15 về trình tự thủ tục xem xét, giải quyết áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N Q T .

2. Thời gian chấp hành cai nghiện bắt buộc là 21 ( hai mươi mốt) tháng tại Trung tâm chữa bê ̣nh giáo du ̣c Lao đô ̣ng xa hô ̣̃ i số 1(địa chỉ: thôn K, xã H , huyện N , tỉnh T, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. N Q T có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hoặc Tòa án niêm yết quyết định.

Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã B có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã Bỉm Sơn phối hợp Công an thị xã B có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ