- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định giải quyết việc dân sự về xác định cha cho con giữa NYC chị Phan Thị Như B"
- Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2022/QĐST-VDS | Quảng Ninh, ngày 15 tháng 6 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhàn;
Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Duy Triều, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 43/2022/TLST-VDS, ngày 05 tháng 5 năm 2022 về việc yêu cầu xác định cha cho con, theo Quyết định mở phiên họp số 12/2022/QĐST-VDS ngày 01 tháng 6 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Phan Thị Như B, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Trường L, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt có đơn xin giải quyết, mở phiên họp vắng mặt.
2. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt có đơn xin giải quyết, mở phiên họp vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Chị Phan Thị Như B yêu cầu xác định anh Nguyễn Trường D, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1993 (đã chết); quê quán: Thôn L, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình là cha ruột của cháu Phan Trường Quang N, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2021.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình nhận định:
Về tố tụng: Người yêu cầu xác định cha cho con có địa thôn L, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Do đó, việc giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình theo quy định tại khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị Phan Thị Như B, sinh ngày 20/8/1995 có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Trường D, sinh ngày 11/10/1993, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, sinh cháu Phan Trường Quang N vào ngày 12 tháng 02 năm 2021; giữa chị B và anh D không đăng ký kết hôn. Sau đó, anh D đi làm ăn ở thành phố Đ, Đài Loan; giữa anh Nguyễn Trường D và cháu Phan Trường Quang N chưa nhận quan hệ cha con, đến ngày 14 tháng 3 năm 2022 anh Nguyễn Trường D chết. Do đó, chị Phan Thị Như B yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Trường D là cha ruột của cháu Phan Trường Quang N.
Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh:
- Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự và việc tuân theo pháp luật tố tụng Thẩm phán, Thư ký: Đây là yêu cầu việc dân sự, người yêu cầu có địa chỉ thôn L, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh theo quy định tại khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ và thực hiện theo đúng quy định tại Điều 51, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp giải quyết việc dân sự. Người yêu cầu chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của người yêu cầu tại phiên họp, lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có căn cứ xác định anh Nguyễn Trường D là cha đẽ của cháu Phan Trường Quang N. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Như B và đề nghị Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Trường D là cha ruột của cháu Phan Trường Quang N theo điều 361 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xét thấy, tại Phiếu kết quả phân tích AND của Công ty TNHH MTV và Dịch vụ DNA TESTINGS Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Ông Nguyễn Trường L và cháu Phan Trường Quang N có cùng huyết thống theo dòng nội.
Ông Nguyễn Trường L là cha ruột, bà Nguyễn Thị D là mẹ ruột của anh Nguyễn Trường D đều thừa nhận cháu Phan Trường Quang N là con ruột của anh Nguyễn Trường D.
Việc chị Phan Thị Như B xin xác nhận anh Nguyễn Trường D là cha ruột của cháu Phan Trường Quang N được ông L, bà D là bố mẹ của anh D thống nhất và không có ý kiến nào phản đối.
Từ phân tích trên thấy rằng yêu cầu của chị Phan Thị Như B và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở nên được chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm: Chị Phan Thị Như B được miễn lệ phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 29, 361, 369, 370, 371, 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 2 Điều 88, khoản 1 Điều 90, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của chị Phan Thị Như B. Xác định anh Nguyễn Trường D, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1993, quê quán: Thôn L, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; là cha ruột của cháu Phan Trường Quang N, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2021.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Phan Thị Như B được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.
3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - VKS huyện Quảng Ninh; - UBND xã X; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Lưu HS. Trong ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang tiến hành mở phiên họp giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số 03/2017/TLST-VHNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2017 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp số 119/2017/QĐ-MPH ngày 14 tháng 9 năm 2017. * Người yêu cầu: Anh Ngô Văn K, sinh năm 1970, địa chỉ: ấp 1, xã P, huyện T, tỉnh G (Có mặt). * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1949 (Có mặt); 2. Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1945 (Có mặt); Cùng địa chỉ: ấp 1, xã P, huyện T, tỉnh G. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Anh Ngô Văn K yêu cầu xác định ông Nguyễn Văn Kh, không rõ năm sinh, nguyên quán: ấp 9, xã Tân Lộc Bắc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau là cha ruột của anh K (nguyên quán của ông Kh ghi theo Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, Bằng Tổ quốc ghi công và đơn xin xác nhận đề ngày 12/7/2017 có xác nhận của UBND xã Tân Lộc Bắc). NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhận định: Năm 1968 ông Nguyễn Văn Kh cưới vợ là bà Nguyễn Thị L; sau khi cưới bà L được vài tháng thì ông Kh hi sinh, lúc này bà L đang mang thai với ông Kh, sau đó bà L sinh con đặt tên là Nguyễn Thành K. Đến khi anh K được khoảng 04 tuổi thì bà L tái giá (có chồng sau) với ông Ngô Văn Đ, khi về chung sống với ông Đ thì bà L lấy họ “Ngô” của ông Đ đặt lại tên cho anh K là Ngô Văn K. Vì thế, anh K sử dụng tên Ngô Văn K từ nhỏ cho đến nay và giấy tờ tùy thân cũng là Ngô Văn K. Hiện nay anh K cần làm các thủ tục để được công nhận anh là con của Liệt sỹ Nguyễn Văn Kh nhưng không làm thủ tục được, vì ông Kh họ “Nguyễn” còn anh K họ “Ngô”. Do đó anh K yêu cầu Tòa án xác định ông Nguyễn Văn Kh là cha ruột của anh. Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu: Thẩm phán, Thư ký và anh K đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu của anh K là phù hợp, có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh K theo quy định của pháp luật. Thấy rằng: Sau khi ông Nguyễn Văn Kh hi sinh, bà L đã sinh anh K và đặt tên là Nguyễn Thành K, nên theo Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ của ông Nguyễn Văn Kh ghi có 01 người con là Nguyễn Thành K, nhưng đến năm anh K lên 04 tuổi, bà L tái giá với ông Ngô Văn Đ và đặt lại tên cho anh K theo họ “Ngô” của ông Đ là Ngô Văn K, từ đó đến nay giấy tờ tùy thân của anh K là Ngô Văn K. Qua xác minh thì bà Nguyễn Thị L (vợ ông Kh) và chồng sau của bà L là ông Ngô Văn Đ đều thừa nhận anh Ngô Văn K là con ruột của ông Nguyễn Văn Kh. Các em của ông Kh là bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn N và chính quyền địa phương nguyên quán của ông Kh (ấp 9, xã Tân Lộc Bắc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau) đều xác định anh K là con ruột của ông Kh và bà L. Cha mẹ ông Kh đều đã chết, ông Kh chỉ có vợ là bà L và có 01 người con là ông K. Việc anh K xin xác nhận ông Nguyễn Văn Kh là cha được bà L, ông Đ thống nhất và không có ý kiến nào phản đối. Từ phân tích trên thấy rằng yêu cầu của anh K và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH Áp dụng các Điều 29, 369, 370, 371, 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 88, 90, 101, 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; 1. Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của anh Ngô Văn K. Xác định ông Nguyễn Văn Kh, không rõ năm sinh, nguyên quán: ấp 9, xã Tân Lộc Bắc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau là cha ruột của anh Ngô Văn K, sinh năm 1970, địa chỉ: ấp 1, xã P, huyện T, tỉnh G. 2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Anh Ngô Văn K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005351 ngày 22/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. 3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật./. | (Đã ký) Nguyễn Thị Nhàn |