vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 30/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị K.

Tuyên bố ông Đinh Công T4, sinh năm 1936; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: thôn N3, xã N1, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn nộp tiền lệ phí Tòa án cho bà Bùi Thị K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bùi Thị K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị K.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà K
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/QĐST- VDSNinh Bình,ngày 30 tháng 8 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v:Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Giang Thị Thúy Thu.

Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 08 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2022/TLST- VDS ngày 05 tháng 04 năm 2022 về việc“Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2022/QĐST-VDS ngày 23 tháng 8 năm 2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:bà Bùi Thị K,sinh năm 1940; Người đại diện theo ủy quyền của bà K: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; cùng địa chỉ: thôn N3, xã N1, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; ( theo giấy ủy quyền ngày 26/08/2022).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Đinh Thị V, sinh năm 1961; địa chỉ: tổ A, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng;

- Anh Đinh Quang T (tên thường gọi là T5), sinh năm 1973; địa chỉ: thôn N3, xã N1, thành phố N, tỉnh Ninh Bình;

- Anh Đinh Công T1, sinh năm 1973; địa chỉ: 106/24/5/19 – Hà Huy Giáp; KP3A, phường Thạnh Lộc, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh;

- Anh Đinh Công T2, sinh năm 1970 (chết năm 2012); Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của anh T2: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1970 ( vợ anh T2); cháu Đinh Văn L, sinh năm 1992 (con anh T2); cháu Đinh Thị Ngọc Ng, sinh năm 1996 (con anh T2); cùng địa chỉ: thôn N3, xã N1, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên họp có mặt: chị Hà; vắng mặt không có lý do: chị V, anh T, anh T1, cháu L, cháu Ng.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu người yêu cầu bà Bùi Thị K trình bày:Bà và ông Đinh Công T4 chung sống với nhau từ năm 1958, có tổ chức cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi cưới ông bà chung sống tại thôn N3, xã N1, thị xã N (nay là thành phố N), tỉnh Ninh Bình. Quá trình chung sống bà và ông T4 sinh được 04 người con chung gồm: chị Đinh Thị V sinh năm 1961, anh Đinh Công T2 sinh năm 1970 (chết năm 2012), anh Đinh Công T1 sinh năm 1973 và anh Đinh Công T sinh năm 1973. Năm 1975 ông Đinh Công T4 từ thôn N3, xã N1, huyện H ( nay là thành phố N), tỉnh Ninh Bình bảo với bà và gia đình đi vào Miền Nam làm ăn. Ông T4 không nói với ai đi vào Miền Nam làm gì, địa chỉ cụ thể ở đâu. Từ đó đến nay không một lần trở về, không liên lạc với gia đình. Trong suốt thời gian đó bà và gia đình luôn tìm kiếm, hỏi thăm bạn bè, anh em mà ông T4 thường xuyên quan hệ trước khi bỏ đi nhưng không ai có bất cứ một thông tin gì về ông T4. Suốt 47 năm bà một mình nuôi các con khôn lớn và trưởng thành. Nay bà tuổi cao, sức yếu để thuận tiện cho việc giải quyết các công việc gia đình bà làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình tuyên bố chồng bà là ông Đinh Công T4 mất tích.

* Tại văn bản trình bày ý kiến anh Đinh Công T1 trình bày: Bố anh là Đinh Công T4, sinh năm 1936, mẹ anh là Bùi Thị K, sinh năm 1940; bố mẹ anh kết hôn với nhau và sinh được 4 người con chung gồm:Chị Đinh Thị V, sinh năm 1961;Anh trai: Đinh Công T2, sinh năm 1970 ( chết năm 2012); Em trai song sinh cùng với anhĐinh Công T, sinh năm 1973.Kể từ khi kết hôn bố mẹ và các anh chị em chung sống cùng nhau tại thôn N3, xã N1, thành phố N. Năm 1975 khi mẹ anh mới sinh đôi anh và em T được khoảng 2 năm thì bố anh đã đi vào Miền Nam. Từ khi anh lớn lên anh đã không biết mặt bố anh, bố anh không gọi điện, viết thư hay về thăm mẹ anh và các con lần nào. Gia đình anh cũng nhiều lần hỏi thăm tin tức anh em, bạn bè của bố anh, tìm kiếm bố anh nhưng không ai có tin tức gì. Một mình mẹ anh đã chăm sóc, nuôi dưỡng 4 chị em các anh khôn lớn, trưởng thành. Đến nay anh cũng không biết bố anh đang ở đâu, làm gì. Nay mẹ anh già yếu có nguyện vọng muốn tuyên bố bố anh là ông Đinh Công T4 mất tích để giải quyết công việc gia đình. Anh nhất trí với ý kiến của mẹ anh. Anh đề nghị Tòa án Tuyên bố ông Đinh Công T4, sinh năm 1936 mất tích theo yêu cầu của mẹ anh.

* Tại văn bản trình bày ý kiến chị Đinh Thị V trình bày: Bố chị là Đinh Công T4, sinh năm 1936, mẹ chị là Bùi Thị K, sinh năm 1940; bố mẹ chị kết hôn với nhau và sinh được 4 người con chung gồm: chị là chị cả; Em trai Đinh Công T2, sinh năm 1970 hiện đã chết năm 2012; Em trai Đinh Quang T ( tên thường gọi là T5), sinh năm 1973;Em trai Đinh Công T1, sinh năm 1973. Kể từ khi kết hôn bố mẹ chị và các con chung sống cùng nhau tại thôn N3, xã N1, thành phố N, sau khi chị lấy chồng chị đã chuyển đi nơi khác sinh sống. Năm 1975 khi chị khoảng 15 tuổi thì bố chị đã nói với gia đình vào Miền Nam làm ăn, bố chị cũng không nói rõ và gia đình cũng không biết bố chị đi vào đâu trong Miền Nam. Kể từ khi bố chị vào Miền Nam, bố chị không gọi điện, viết thư hay về thăm mẹ chị và chị em chị lần nào. Mẹ chị và 4 chị em chị cũng nhiều lần hỏi thăm tin tức anh em, bạn bè của bố chị, tìm kiếm bố chị nhưng không ai có tin tức gì. Đến nay chị cũng không biết bố chị ở đâu, làm gì. Nay mẹ chị có nguyện vọng muốn tuyên bố ông Đinh Công T4 mất tích để giải quyết công việc gia đình. Chị nhất trí với ý kiến của mẹ chị. Chị đề nghị Tòa án Tuyên bố ông Đinh Công T4, sinh năm 1936 là bố của chị mất tích.

* Tại văn bản trình bày ý kiến anh Đinh Quang T trình bày:Bố anh là Đinh Công T4, sinh năm 1936, mẹ anh là Bùi Thị K, sinh năm 1940; bố mẹ anh kết hôn với nhau và sinh được 4 người con chung gồm: Chị Đinh Thị V, sinh năm 1961;Anh trai Đinh Công T2, sinh năm 1970 ( chết năm 2012), anh T2 có vợ là chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1970 và 2 con là cháu Đinh Văn L, sinh năm 1992 và cháu Đinh Thị Ngọc Ng, sinh năm 1996; Anh trai Đinh Công T1, sinh năm 1973; anh là con út. Kể từ khi kết hôn bố mẹ và các anh chị em chung sống cùng nhau tại thôn N3, xã N1, thành phố N, sau đó anh có gia đình và chung sống tại mảnh đất khác. Năm 1975 khi mẹ anh mới sinh đôi anh và anh Tuyên được khoảng 2 năm thì bố anh đã đi vào Miền Nam. Từ khi anh lớn lên anh đã không biết mặt bố anh, bố anh không gọi điện, viết thư hay về thăm mẹ anh và các con lần nào. Mẹ anh và 4 chị em các anh cũng nhiều lần hỏi thăm tin tức anh em, bạn bè của bố anh, tìm kiếm bố anh nhưng không ai có tin tức gì. Một mình mẹ anh đã chăm sóc, nuôi dưỡng 4 chị em chúng các anh khôn lớn, trưởng thành. Nay mẹ anh già yếu có nguyện vọng muốn tuyên bố bố anh là ông Đinh Công T4 mất tích để giải quyết công việc gia đình. Anh nhất trí với ý kiến của mẹ anh. Anh đề nghị Tòa án Tuyên bố ông Đinh Công T4, sinh năm 1936 mất tích theo yêu cầu của mẹ anh.

* Tại văn bản trình bày ý kiến chị Nguyễn Thị H trình bày: chị là con dâu của bà Bùi Thị K. Năm 1991,chị kết hôn với anh Đinh Công T2, sinh năm 1970 là con thứ 2 của bà Bùi Thị K và ông Đinh Công T4. Sau khi kết hôn chị và anh T2 sinh sống ngay cạnh nhà mẹ chồng chị tại thôn N3, xã N1, thành phố N, tỉnh Ninh Bình và sinh được 2 người con chung là cháu Đinh Văn L, sinh năm 1992 và cháu Đinh Thị Ngọc Ng, sinh năm 1996. Năm 2012 chồng chị bị bệnh chết. Từ khi chịvề làm dâu đến nay chị không biết mặt bố chồng chị là ông Đinh Công T4 mà chỉ nghe gia đình nhà chồng nói ông T4 vào Miền Nam làm ăn từ năm 1975 rồi từ đó không về gia đình nữa. Bản thân chồng chị và gia đình nhà chồng chị nhiều lần đã tìm kiếm ông T4 nhưng không có tin tức gì. Bản thân chị không biết ông T4 ở đâu làm gì. Nay mẹ chồng chị đề nghị Tòa án tuyên bố ông Đinh Công T4 mất tích để giải quyết công việc gia đình. chị nhất trí với ý kiến của mẹ chồng chị, đề nghị Tòa án Tuyên bố ông Đinh Công T4 mất tích theo yêu cầu của mẹ chị.

* Tại văn bản trình bày ý kiến cháu Đinh Văn L và cháu Đinh Thị Ngọc Ng trình bày: Bố mẹ chúng cháu là Đinh Công T2 và Nguyễn Thị H. Bố chúng cháu là con thứ 2 của ông bà nội là Đinh Công T4 và Bùi Thị K. Năm 2012 bố chúng cháu chết. Từ khi chúng cháu sinh ra đến nay chúng cháu không biết gì về ông nội. Chúng cháu chỉ nghe gia đình nói ông nội Đinh Công T4 vào Miền Nam làm ăn từ năm 1975 sau đó không về nhà nữa. Gia đình nhà nội cũng nhiều lần hỏi han tin tức của ông nội nhưng không ai biết ông nội đang làm gì ở đâu. Nay bà nội đề nghị Tòa án tuyên bố ông Đinh Công T4 mất tích để giải quyết công việc gia đình. Chúng cháu nhất trí không có ý kiến gì.

* Tại phiên họp:

Người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu là bà Nguyễn Thị H trình bày ý kiến: giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự, ông Đinh Công T4 đã bỏ nhà vào Miền Nam từ năm 1975 đến nay đã 47 năm, không có tin tức gì; gia đình cũng đã tìm kiếm, Tòa án cũng đã thông báo tìm kiếm nhưng không có tin tức gì; Đến nay đã quá thời hạn 2 năm theo quy định của pháp luật nên đề nghị Tòa án tuyên bố ông Đinh Công T4 mất tích, mục đích để bà K giải quyết công việc gia đình.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của anh Đinh Công T2 bà Nguyễn Thị H trình bày ý kiến: nhất trí với ý kiến của người yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên bố ông Đinh Công T4 mất tích.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình về việc giải quyết việc dân sự:

Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 68 Bộ luật dân sự, Điều150; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Tòa án:

- Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị K: Tuyên bố ông Đinh Công T4, sinh nặm 1936; nơi cư trú cuối cùng: thôn N3, xã N1, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, mất tích kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật.

- Bà Bùi Thị K được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình nhận định:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền của Tòa án: Bà Bùi Thị K và ông Đinh Công T4 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1958 có 4 người con chung, tuy không có đăng ký kết hôn nhưng được công nhận là hôn nhân thực tế, hợp pháp. Năm 1975 ông T4 bỏ nhà vào Miền Nam đến nay không có tin tức gì; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: thôn N3, xã N1, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, nên căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b, khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà K là người có quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự “Tuyên bố một người mất tích”, việc yêu cầu của bà K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình.

- Về sự vắng mặt của người tham gia phiên họp: chị Đinh Thị V, anh Đinh Quang T (T5), anh Đinh Công T1, cháu Đinh Văn L và cháu Đinh Thị Ngọc Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt không có lý do, song những người này đều đã có văn bản trình bày ý kiến với Tòa án và đề nghị Tòa án tuyên bố ông Đinh Công T4 mất tích theo yêu cầu cầu bà K. Xét thấy bà K chỉ yêu cầu tuyên bố ông Đinh Công T4 mất tích và không có yêu cầu gì khác nên việc vắng mặt của những người trên không ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Do vậy căn cứ khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.

Về nội dung, yêu cầu của bà Bùi Thị K :

Bà Bùi Thị K yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Đinh Công T4 ( chồng bà K) mất tích từ năm 1975 mục đích đề giải quyết công việc gia đình.

Tài liệu chứng cứ mà bà Bùi Thị K cung cấp cho Tòa án: 01 đơn xin xác nhận của trưởng thôn N3, xã N1, thành phố N và Ủy ban nhân dân xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình xác nhận ông Đinh Công T4, là chồng bà K, ông T4 đi từ năm 1975 đến nay không có thông tin gì; giấy khai sinh của anh Đinh Quang T mục tên cha ghi Đinh Công T4, tên mẹ ghi Bùi Thị K.

Tài liệu chứng cứ Tòa án đã thu thập được trong quá trình giải quyết việc dân sự: Lời khai của ông Đinh Văn M ( em trai ông Đinh Công T4 ) xác nhận ông T4 và bà K kết hôn và sinh sống tại thôn N3, xã N1, thành phố N, sinh được 4 người con; năm 1975 ông T4 vào Miền Nam làm ăn, từ đó không liên lạc với gia đình đến nay không ai biết ông T4 ở đâu, làm gì. Công an xã N, thành phố Ninh Bình cũng xác nhận ông T4 không ở địa phương.

Toàn bộ người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là những người con, cháu của bà K và ông T4 đều khẳng định ông T4 bỏ đi vào Miền Nam từ năm 1975, đến nay không có tin tức gì, gia đình cũng đã tìm kiếm nhưng không có kết quả và đề nghị Tuyên bố ông Đinh Công T4 mất tích theo yêu cầu của bà K.

Ngày 18/04/2022, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với ông Đinh Công T4 và đăng trên báo hàng ngày của trung ương ( Báo Nhân dân) trong ba số liên tiếp, phát sóng trên Đài phát thanh của Trung ương ( Đài Tiếng nói Việt Nam) ba lần trong 03 ngày liên tiếp, đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án, UBND tỉnh Ninh Bình. Đến nay đã quá thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên( ngày 21/04/2022) nhưng không có tin tức xác thực về việc ông Đinh Công T4 còn sống hoặc đã chết.

Như vậy căn cứ các tài liệu, chứng cứ bà K đã xuất trình, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chứng cứ do Tòa án thu thập được đã có đủ căn cứ chứng minh ông Đinh Công T4 biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc ông T4 còn sống hoặc đã chết nên căn cứ Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 68 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của bà K tuyên bố ông Đinh Công T4 mất tích.

Bà Bùi Thị K đã nộp chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích với tổng số tiền là 5.100.000 đồng ( Năm triệu một trăm nghìn đồng). Số tiền này theo quy định tại Điều 385 Bộ luật tố tụng dân sự bà K phải chịu.

Về lệ phí: Bà Bùi Thị K là người cao tuổi (Điều 2 Luật người cao tuổi), có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí nên được Tòa án chấp nhận miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Bà K thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí nên không phải xem xét trả lại.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ : Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b, khoản 2 Điều 39; khoản 3 Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 385; Điều 387; Điều 388 và Điều 389; khoản 1 Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 68 của Bộ luật dân sự;. Điều 12; Điều 16; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị K.

Tuyên bố ông Đinh Công T4, sinh năm 1936; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: thôn N3, xã N1, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn nộp tiền lệ phí Tòa án cho bà Bùi Thị K.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Bùi Thị K, chị Đinh Thị V, anh Đinh Quang T (T5), anh Đinh Công T1, chị Nguyễn Thị H, cháu Đinh Văn L, cháu Đinh Thị Ngọc Ng có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. N¬i nhËn:

Cỡ chữ