vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 07/03/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà T: Tuyên bố anh T1, sinh năm 1978; trú tại đường N, phường V, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà T phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định là 300.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2016/2905 ngày 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "bà T yêu cầu tòa án tuyên bố anh T1 mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà T: Tuyên bố anh T1, sinh năm 1978; trú tại đường N, phường V, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02 /2022 /QĐST-VDSTP. Lạng Sơn, ngày 07 tháng 3 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Kim Thịnh

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Phượng- Thư ký tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố S, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên họp: Bà Dương Thu Hải- Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 03 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 48/2021/TLST- VDS ngày 04 tháng 10 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2022/QĐST-VDS ngày 01 tháng 03 năm 2022 và quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 06/2022/QĐ-CA ngày 03/03/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà T; địa chỉ: Đường N, phường V, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà H, vắng mặt;

2. Ông H1, vắng mặt;

Cùng địa chỉ: Đường N, phường V, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn.

3. Anh T1, sinh năm 1978; Nơi cư trú cuối cùng: Đường N, phường V, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và bản khai, biên bản lấy lời khai của người yêu cầu bà T trình bày: Anh trai bà là T1 sinh năm 1978, đã bỏ nhà đi từ năm 1998, đến nay anh T1 ở đâu, làm gì gia đình không có tin tức. Năm 1999-2000 gia đình có đăng tin tìm người nhà trên đài truyền hình Việt Nam tuy nhiên gia đình cũng không nhận được thông tin gì về anh T1. Khi đi, anh T1 không để lại tài sản gì và chưa có vợ, con, không có bố mẹ nuôi, không có tranh chấp gì về tài sản. Nay gia đình cần thực hiện một số giao dịch dân sự. Do vậy, bà T đã yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T1 mất tích.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H trình bày tại bản tự khai ngày 20/10/2021: Con trai bà là T1, bỏ nhà đi từ năm 1998 đến nay không có tin tức gì, thời điểm bỏ nhà đi sức khoẻ hoàn toàn bình thường và chưa lập gia đình và không nợ nần ai, từ năm 1999 đến 2000 gia đình đã tìm kiếm và đăng tin tìm kiếm trên đài truyền hình Việt Nam nhưng không có thông tin gì. Nay con gái bà là T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T1 mất tích bà nhất trí và không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông H1 trình bày tại bản tự khai ngày 10/11/2021: Ông là chồng của bà T, T1 là anh rể của ông, bỏ nhà đi từ năm 1998 đến nay, gia đình đã hỏi anh em, bạn bè và đăng tin trên đài truyền hình Việt Nam năm 1999-2000 nhưng không có tin tức gì. Anh T1 khi đi khỏi nhà chưa có vợ, con, không có bố mẹ nuôi, không nợ nần ai, không có tranh chấp gì về tài sản. Nay bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T1 mất tích ông nhất trí và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật trong giải quyết việc dân sự của thẩm phán, thư ký và việc chấp hành pháp luật của các đương sự kể từ khi thụ lý cho đến tại phiên họp đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục và đề nghị Tòa án áp dụng Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các điều 363, 365, 369, 370, 384, 385, 388, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu của chị T về việc tuyên bố anh anh T1, sinh năm 1978, trú tại: có hộ khẩu thường trú tại đường N, khối 7, phường V, thành phố S mất tích

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà T có đơn yêu cầu tuyên bố anh T1, có nơi cư trú cuối cùng tại đường N, phường V, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn mất tích là yêu cầu dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a, khoản 2 Điều 35; điểm a, khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập các đương sự là bà T, bà H và ông H1 theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà T, bà H do đang điều trị Covid và ông H1 do bận công việc nên đã có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó Tòa án quyết định vẫn tiến hành phiên họp và công bố lời khai của bà T, bà H và ông H1 là đúng theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 367 và khoản 2 Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu tuyên bố anh T1 mất tích: Căn cứ tài liệu, chứng cứ, đơn yêu cầu đề ngày 24/9/2011, bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bà T: Anh trai bà là T1 sinh năm 1978, đã bỏ nhà đi từ năm 1998, đến nay anh T1 ở đâu, làm gì gia đình không có tin tức. Năm 1999-2000 gia đình bà có đăng tin tìm người nhà trên đài truyền hình Việt Nam tuy nhiên gia đình cũng không nhận được thông tin gì về anh T1. Khi đi, anh T1 không để lại tài sản gì và chưa có vợ, con, không có bố mẹ nuôi, không có tranh chấp gì về tài sản. Nay gia đình bà cần thực hiện một số giao dịch dân sự. Do vậy, bà T đã yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T1 mất tích. Gia đình bà gồm có mẹ bà H và chồng bà là ông H1 cũng nhất trí với lời khai của bà T, anh T1 đã đi khỏi nhà từ năm 1998 đến nay, đi đâu làm gì gia đình không rõ, không có tin tức gì của anh T1. Bà H và ông H1 nhất trí về việc bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T1 mất tích.

Tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về mất tích: “ khi 1 người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”.

Ngày 20/10/2021, Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã ban hành quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 03/QĐ-TA để tìm kiếm anh T1. Quyết định này đã được Trang thông tin điện tử TAND tỉnh Lạng Sơn đăng vào ngày 20/10/2021, được đăng trên cổng thông tin điện tử của tỉnh Lạng Sơn vào ngày 25/10/2021, được Báo Công Lý đăng liên tiếp trong 3 số là số 87 ngày 29/10/2021, số 88 ngày 03/11/2021 và số 89 ngày 05/11/202; được phát thanh trên đài VOV2 vào 17h30 phút ngày 29, 30, 31/10/2021. Sau khi hết hạn 4 tháng kể từ ngày đăng phát lần đầu tiên cho đến nay không có tin tức gì của anh T1.

Ngày 23/2/2022, Tòa án đã đi xác minh về việc anh T1 có mặt ở địa phương không thì được ông V – Khối trưởng khối 7 và công an phường V cho biết: Anh T1, sinh năm 1978, có hộ khẩu thường trú tại phường V, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn. Hiện nay, anh T1 không ăn ở, sinh hoạt tại địa chỉ trên; đi đâu, làm gì không rõ. Anh T1 không có liên lạc với cơ quan Công an. Anh T1 đã đi khỏi địa phương từ năm 1998-1999 đến nay không thấy về. Anh T1 không có vợ, con. Anh T1 đi đâu không thông báo với khối, không có số điện thoại để liên lạc. Trước khi bỏ đi anh T1 sống phụ thuộc vào bố mẹ, không có nhà, đất hay tài sản riêng.

Như vậy, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ cho thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Anh T1 đã biệt tích từ năm 1999-2000 đến nay (hơn 20 năm) không có liên lạc gì với gia đình mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm anh T1 theo quy định của pháp luật nhưng cũng không có bất cứ tin tức nào xác thực hiện anh T1 còn sống hoặc đang cư trú tại địa chỉ nào. Do đó yêu cầu tuyên bố anh T1 mất tích của bà T là có căn cứ. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của bà T và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn về việc tuyên bố anh T1 mất tích.

Về việc quản lý tài sản của anh T1 do bà T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về chi phí đăng tin, xác minh tìm kiếm: Bà T tự nguyện chịu chi phí xác minh, đăng tin trên báo đài về việc tìm kiếm anh T1, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà T phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định là 300.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2016/2905 ngày 27/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố, tỉnh Lạng Sơn. Bà T đã nộp đủ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tại phiên họp là phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thành phố S , tỉnh Lạng Sơn có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 3 Điều 27; điểm a, khoản 2 Điều 35, điểm a, khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149, khoản 3 Điều 367 và khoản 2 Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 68; các Điều 363; 365; 369, 370; 371, 372, 388, 389 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà T: Tuyên bố anh T1, sinh năm 1978; trú tại đường N, phường V, thành phố S, tỉnh Lạng Sơn mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà T phải chịu tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định là 300.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2016/2905 ngày 27/9/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố, tỉnh Lạng Sơn. Bà T đã nộp đủ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày Quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ