vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà H.

Tuyên bố: Anh P, sinh ngày 02/10/1986 mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nguyễn Thị H - Trần P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/QĐST-VDSBuôn Ma Thuột, ngày 12 tháng 01 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Duy Dương.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên họp: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 26/2021/TLST-VDS ngày 12 tháng 7 năm 2021 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 86/2021/QĐST-VDS ngày 24 tháng 12 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà H, sinh năm: 1964.

Địa chỉ: Số Y Đường L, Tổ dân phố X, phường A, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh P, sinh năm 1986.

Nơi cư trú cuối cùng: Số Y Đường L, Tổ dân phố X, phường A, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, và tại bản tự khai trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, người yêu cầu – Bà H trình bày có nội dung như sau:

Anh P - sinh năm 1986 là con đẻ của bà H.

Anh P từ lúc sinh ra sinh sống và đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Số Y Đường L, Tổ dân phố X, phường A, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Anh P từ khi sinh ra có biểu hiện bị bệnh tâm thần, thỉnh thoảng bỏ nhà đi lang thang vài ngày rồi về. Tuy nhiên đến tháng 4 năm 2019 thì anh P bỏ nhà ra đi, đến nay không thấy quay về. Gia đình của anh P đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng vẫn không có kết quả, đến nay vẫn không có tin tức gì về anh P.

Vì vậy, bà H là mẹ đẻ của anh P yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tuyên bố anh P mất tích.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột:

Về tố tụng: Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma thụ lý, giải quyết việc dân sự theo đơn yêu cầu của bà H đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự đề nghị Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột chấp nhận đơn yêu cầu của bà H: Tuyên bố anh P, sinh ngày 02/10/1986 mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ việc “Tuyên bố một người mất tích” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố anh P mất tích; Ngày 30/7/2021, Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã ban hành Quyết định Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 08/2021/QĐ-TA thông báo trên phương tiện thông tin tìm kiếm anh P để có cơ sở giải quyết việc dân sự. Đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh P còn sống hay đã chết.

Do đó bà H, là mẹ đẻ của anh P, có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố anh P mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự nên cần chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu bà H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Về chi phí đăng thông báo, nhắn tin tìm kiếm anh P: Bà H phải chịu 2.425.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo, nhắn tin tìm kiếm anh P, được khấu trừ vào số tiền 2.425.000 đồng mà bà H đã nộp, đã chi phí hết theo Phiếu thu số 59, quyển số 01 ngày 19 tháng 8 năm 2021 của Cơ quan thường trú Đài tiếng nói Việt Nam khu vực Tây Nguyên và Hóa đơn số 0000762 ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Báo Tiền phong.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 149, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà H.

Tuyên bố: Anh P, sinh ngày 02/10/1986 mất tích.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Bà H phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng mà ông M đã nộp thay bà H tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 60AA/2021/0004392 ngày 12 tháng 7 năm 2021.

3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Cỡ chữ