- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Vừ Mí S "tuyên bố một người mất tích""
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Vừ Mí S: Tuyên bố chị Giàng Thị M, sinh năm 1994; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn X, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2022/QĐST-VDS | Yên Minh, ngày 17 tháng 6 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MINH, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Hoàng Văn Đạng
Thư ký phiên họp: Ông Lâm Thái Hùng – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Ma Phúc Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2022/TLST-VDS ngày 09 tháng 02 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2022/QĐST-VDS ngày 02 tháng 6 năm 2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Vừ Mí S, sinh năm 1995; địa chỉ nơi cư trú: Thôn X, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Giàng Thị M, sinh năm 1994; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn X, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt.
- Người phiên dịch tiếng dân tộc Mông: Ông Chảo Mí H; nơi cư trú: Thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 26/01/2022, bản tự khai ngày 09/02/2022 và tại phiên họp người yêu cầu anh Vừ Mí S trình bày: Năm 2014 tôi và chị Giàng Thị M, sinh năm 1994 cùng trú tại thôn X, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang chung sống với nhau thành vợ chồng và có con trước khi kết hôn, đến ngày 12/8/2015 vợ chồng mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc và có hai con gái chung là Vừ Thị D, sinh ngày 20/11/2014 và Vừ Thị P, sinh ngày 22/11/2015 do hoàn cảnh gia đình tôi rất khó khăn về điều kiện kinh tế nên tôi và vợ tôi là chị M phải đi làm thuê ở bên Trung Quốc để kiếm tiền về trang trải cho cuộc sống gia đình được một thời gian thì vợ tôi bỏ đi, trong thời gian này vợ chồng không hề có xảy ra mâu thuẫn gì, cho đến nay vẫn không hề không có tin tức gì, mặc dù tôi cùng hai bên gia đình cũng đã liên lạc tìm kiếm nhiều lần nhưng không rõ tung tích hiện nay chị M đang ở đâu, bản thân tôi một mình tự nuôi con rất vất vả, nay tôi cần có một cuộc sống ổn định nên tôi cũng đã tính đến chuyện ly hôn với chị Giàng Thị M, nhưng trong quá trình giải quyết để đảm bảo quyền và lợi ích cho chị M tôi làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Minh giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích đối với chị Giàng Thị M. Kể từ khi chị Giàng Thị M bỏ đi biệt tích đến nay cũng đã được hơn 03 năm, tôi cũng đã làm thủ tục tìm kiếm trên Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông và báo công lý cho đến nay vẫn không có tin tức gì về chị M. Do vậy, tôi vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố chị Giàng Thị M mất tích. Đề nghị Tòa án xem xét quyết định.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thụ lý vụ việc theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết việc dân sự Tòa án đã yêu cầu đương sự và đã thu thập tài liệu, chứng cứ để làm cơ sở cho việc giải quyết việc dân sự đúng quy định của pháp luật, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và niêm yết công khai đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, việc giải quyết việc dân sự của Tòa án nhân dân huyện Yên Minh là đảm bảo tuân thủ thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các quy định của pháp luật đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Minh chấp nhận yêu cầu của anh Vừ Mí S, tuyên bố chị Giàng Thị M, sinh năm 1994; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn X, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích; giao các cháu Vừ Thị D, Vừ Thị P cho anh Vừ Mí S tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang nhận định:
Về tố tụng: Chị Giàng Thị M, sinh năm 1994; nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn X, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang nên đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Vừ Mí S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về yêu cầu tuyên bố một người mất tích: Anh Vừ Mí S chung sống với chị Giàng Thị M như vợ chồng và đã có hai con gái chung với nhau trước khi kết hôn, đến ngày 12/8/2015 vợ chồng anh S, chị M mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang, quá trình chung sống anh S với chị M không có mâu thuẫn gì, tuy nhiên đến thời điểm tháng 02/2018 chị Giàng Thị M tự bỏ nhà đi, không ai biết tung tích gì về chị M cũng như chị M không có liên lạc gì về với gia đình, kể từ đó đến nay gia đình hai bên vẫn không ai có tin tức gì của chị M, quá trình chị M biệt tích anh S và gia đình đã nhiều lần tổ chức tìm kiếm nhưng không biết hiện chị M ở đâu còn sống hay đã chết.
Công an xã Sủ, huyện Y xác nhận chị Giàng Thị M, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn X, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang không có mặt tại địa phương nơi cư trú từ tháng 02 năm 2018.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của anh Vừ Mí S, Tòa án nhân dân huyện Yên Minh ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 01/2022/QĐ-TA ngày 09/02/2022 đối với chị Giàng Thị M và niêm yết tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Minh, Trụ sở Ủy ban nhân dân xã S và thôn X, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang đồng thời đã được thông báo trên báo Công lý 03 số liên tiếp 16, 17, 18 ra các ngày 25/02/2022, 01/3/2022, 04/3/2022 và được phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 ngày liên tiếp vào hồi 17 giờ 30 phút, các ngày 12, 13, 14/02/2022, thông báo trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang.
Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, Tòa án và gia đình vẫn không nhận được tin tức xác thực về việc chị Giàng Thị M còn sống hay đã chết.
Do vậy, yêu cầu của anh Vừ Mí S về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với chị Giàng Thị M, sinh năm 1994 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật Dân sự và các Điều 387, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
Về con chung: Anh Vừ Mí S và chị Giàng Thị M có hai con gái chung là Vừ Thị D, sinh ngày 20/11/2014, Vừ Thị P, sinh ngày 22/11/2015 hiện đang ở cùng với anh S, anh S đề nghị Tòa tiếp tục giao các con để anh chăm sóc nuôi dưỡng.
Về quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích: Anh Vừ Mí S không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Nhận thấy anh Vừ Mí S là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn lệ phí nên miễn nộp tiền lệ phí cho anh S theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 361, 369, 370, 371, 372, 387, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Vừ Mí S: Tuyên bố chị Giàng Thị M, sinh năm 1994; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn X, xã S, huyện Y, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Giao các cháu Vừ Thị D, sinh ngày 20/11/2014, cháu Vừ Thị P, sinh ngày 22/11/2015 cho anh Vừ Mí S trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Vừ Mí S được miễn nộp toàn bộ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Vừ Mí S có quyền kháng cáo Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Minh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Giang; - VKSND tỉnh Hà Giang; - VKSND huyện Yên Minh; - Chi cục THADS huyện Yên Minh; - Người yêu cầu; - UBND xã S, huyện Y; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Hoàng Văn Đạng |