vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 12/12/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích của chị Bùi Thị D.

Tuyên bố anh Đinh Văn T, sinh năm 1988; nơi cư trú cuối cùng: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Hoà Bình mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Bùi Thị D phải chịu 300.000đ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Chị Bùi Thị D đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí theo biên lai số 0002690 n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Bùi Thị D yêu cầu tuyên bố anh Đinh Văn T mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích của chị Bùi Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN LẠC
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/QĐST-VDSTân Lạc, ngày 12 tháng 12 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Hữu Doanh.

Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Thanh Tâm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Thành Công- Kiểm sát viên.

Ngày 12/12/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 07/2022/TLST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2022 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số 02/2022/QĐST-VDS ngày 29/11/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Bùi Thị D, sinh năm 1991. Địa chỉ: Xóm M, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu và bản tự khai thì người yêu cầu là chị Bùi Thị D trình bày:

Chị và anh Đinh Văn T kết hôn ngày 06/01/2014 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bắc Sơn nay là Ủy ban nhân dân xã Vân Sơn, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà chồng ở xóm B xã N, nay là xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Vợ chồng sống hạnh phúc. Tuy nhiên, ngày 01/6/2014 anh Đinh Văn T bỏ nhà đi không rõ lý do, không nói với ai. Trước khi đi, hai vợ chồng cũng không có xảy ra mâu thuẫn gì. Từ đó đến nay, chị và gia đình không có tin tức gì của anh T. Anh T cũng không có tin tức hay liên lạc gì với gia đình nội ngoại và họ hàng hai bên. Chị và gia đình cũng đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng không có kết quả.

Nay chị yêu cầu tuyên bố anh Đinh Văn T, sinh ngày 24/9/1988. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình mất tích.

Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là Đinh Ngọc L, sinh ngày 23/12/2014. Hiện nay con chung đang ở với chị tại xóm M, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung và anh Đinh Văn T không có tài sản riêng nên chị không đề nghị quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm tại phiên họp:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết việc dân sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu: Người yêu cầu đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào đơn yêu cầu của chị Bùi Thị D và các tài liệu chứng cứ đã thu thập, xác minh cho thấy anh Đinh Văn T đã biệt tích từ ngày 01/6/2014 cho đến nay không có tin tức gì. Chị Bùi Thị D và gia đình đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm người thân của hai gia đình, tìm kiếm nhiều nơi, đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm anh Đinh Văn T nhưng sau 4 tháng cũng không có kết quả. Như vậy có đủ cơ sở kết luận anh Đinh Văn T đã biệt tích hai năm liền trở lên mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về anh T còn sống hay đã chết. Do vậy, căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự và các Điều 27, 35, 39, 388 và 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của chị Bùi Thị D về việc tuyên bố anh Đinh Văn T, sinh năm 1988; nơi cư trú cuối cùng: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình mất tích. Trong thời kỳ hôn nhân, chị D và anh T chưa tạo dựng được tài sản gì chung và anh T không có tài sản riêng nên không đặt ra vấn đề quản lý tài sản chung của người bị tuyên bố mất tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc nhận định:

Về tố tụng: Chị Bùi Thị D có đơn yêu cầu tuyên bố anh Đinh Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình mất tích. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc.

Về nội dung:

Xét yêu cầu tuyên bố anh Đinh Văn T mất tích của chị Bùi Thị D:

Toà án đã tiến hành xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương cho thấy: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1988 có hộ khẩu tại gia đình anh trai Đinh Văn T ở xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Anh Đinh Văn T bỏ nhà đi từ ngày 01/6/2014 cho đến nay không có khai báo với công an xã nơi cư trú cuối cùng về việc tạm trú, tạm vắng. Gia đình cũng đã báo cáo chính quyền địa phương về việc anh Đinh Văn T bỏ nhà đi. Anh Đinh Văn T từ ngày bỏ đi không có tin tức hay liên lạc với gia đình. Chị Bùi Thị D và gia đình đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm người thân của hai gia đình, tìm kiếm nhiều nơi, đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm kiếm anh Đinh Văn T nhưng sau 4 tháng cũng không có kết quả. Như vậy có đủ cơ sở kết luận anh Đinh Văn T đã biệt tích hai năm liền trở lên mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về anh T còn sống hay đã chết. Do vậy, căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, cần chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị D về việc tuyên bố anh Đinh Văn T mất tích.

Trong quá trình chung sống, chị Bùi Thị Dg và anh Đinh Văn T chưa tạo dựng được tài sản gì chung và anh Đinh Văn T không có tài sản riêng nên không đặt ra vấn đề quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích.

Về lệ phí: Chị Bùi Thị D phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; khoản 1 Điều 149; Điều 371; Điều 372; Điều 388 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc tuyên bố một người mất tích của chị Bùi Thị D.

Tuyên bố anh Đinh Văn T, sinh năm 1988; nơi cư trú cuối cùng: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Hoà Bình mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Bùi Thị D phải chịu 300.000đ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Chị Bùi Thị D đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí theo biên lai số 0002690 ngày 13 tháng 6 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Lạc, nay chuyển thành lệ phí.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.

Cỡ chữ