vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/07/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Tưởng Đăng G.

Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985; nơi cư trú cuối cùng: Xóm Tr, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An, mất tích kể từ ngày 30/3/2014. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Tưởng Đăng G phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Được khấu trừ và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tưởng Đăng G"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Tưởng Đăng G.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/QĐST-VDSN, ngày 29 tháng 7 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Huy Mạnh.

- Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thu Trang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên họp: Ông Đặng Trường Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2022/TLST-VDS ngày 01 tháng 3 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2022/QĐST-DS ngày 21 tháng 7 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Tưởng Đăng G, sinh năm 1985; nơi cư trú: Xóm Tr, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin vắng mặt.

- Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985; nơi đăng ký HKTT cuối cùng: Xóm 1, xã N (nay là xóm Tr, xã Tr), huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai, biên bản lấy lời khai anh Tưởng Đăng G trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985; nơi đăng ký HKTT: Xóm 1, xã N (nay là xóm Tr, xã Tr), huyện N, tỉnh Nghệ An kết hôn với nhau vào ngày 15/02/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Kh, huyện N, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn thì cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng diễn ra bình thường, anh và chị Q có 01 con chung là Tưởng Thị Ngọc D, sinh ngày 29/10/2012, hiện nay cháu đang ở cùng với anh và ông bà nội.

Tháng 9/2013, anh đi xuất khẩu lao động tại Malaysia, để lại vợ con ở nhà. Từ ngày 30/3/2014, không biết vì lý do gì mà chị Q bỏ nhà ra đi từ đó đến nay không có tin tức gì, không liên lạc gì với chồng con; gia đình hai bên nội và ngoại, không ai biết hiện nay chị Q làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Anh đã áp dụng mọi cách thức tìm kiếm trong vòng hơn 2 năm qua nhưng cũng không có tin tức gì của chị Q, cụ thể: Đăng Thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị Q trên đài Phát thanh và truyền hình Nghệ An phát sóng thời sự lúc 11 giờ 30 phút các ngày 23,24,25 tháng 2 năm 2022. Nay anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện N tuyên bố chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985; nơi cư trú cuối cùng: Xóm Trung Cần, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An mất tích từ ngày 30/3/2014. Đồng thời không áp dụng biện pháp quản lý tài sản của chị Nguyễn Thị Q.

Cháu Tưởng Thị Ngọc D có bản tự khai trình bày: Cháu là con của bố Tưởng Đăng G và mẹ là Nguyễn Thị Q. Từ ngày 30/3/2014 mẹ cháu bỏ nhà ra đi cho đến nay không có một thông tin gì, cũng không thấy mẹ về; nay cháu không biết mẹ ở đâu. Từ lúc mẹ bỏ nhà ra đi thì cháu ở cùng với bố và ông bà nội chăm sóc.

Tại biên bản lấy lời khai bà Trần Thị S – Là mẹ kế của chị Q trình bày: Vào khoảng giữa năm 2013 chị Nguyễn Thị Q bỏ nhà đi từ đó đến nay, không liên lạc gì với gia đình bà nên cũng không biết hiện chị Q đang làm gì, ở đâu, còn sống hay đã chết. Thời điểm chị Q bỏ nhà ra đi thì bố mẹ đẻ chị Q đã chết. Từ khi chị Q bỏ đi thì bà có đi tìm kiếm, hỏi han nhiều nơi nhưng không có thông tin gì về chị Q.

Tại biên bản lấy lời khai bà Nguyễn Thị A – Là em gái của bố chị Q, bà A trình bày: Vào khoảng năm 2013, bà có biết được việc chị Q có mâu thuẫn với bố mẹ anh G và bị bố mẹ anh G đuổi ra khỏi nhà, thời điểm đó anh G đang ở nước ngoài. Khi chị Q bị đuổi ra khỏi nhà thì chị Q không về gia đình bên ngoại. Từ đó đến nay, bà và anh em họ hàng tìm kiếm chị Q nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về chị Q.

Quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của chị Nguyễn Thị Q thì UBND xã Tr xác nhận từ ngày 30/3/2014 đến nay chị Q không sinh sống và cư trú, không có mặt tại địa phương. Hiện nay, chị Q đi đâu, làm gì thì chính quyền địa phương không biết.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu: Về thẩm quyền thụ lý việc dân sự đúng quy định. Việc thu thập chứng cứ, tài liệu đúng quy định. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, căn cứ các Điều 68, 69 của Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 366, 367, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu của anh Tưởng Đăng G về việc yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985; nơi cư trú cuối cùng: Xóm Tr, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An mất tích từ ngày 30/3/2014. Không áp dụng biện pháp quản lý tài sản. Về lệ phí: Anh Tưởng Đăng G phải chịu lệ phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện N nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Căn cứ Trích lục kết hôn số 64/TLKH-BS ngày 26/01/2022 của UBND xã Kh, huyên N thì anh Tưởng Đăng G và chị Nguyễn Thị Q là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Kh vào ngày 15/02/2012 và hiện tại chưa ly hôn. Vì vậy, anh G có quyền yêu cầu chị Q mất tích là đúng quy định tại khoản 1 Điều 387 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh G và chị Q có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại UBND xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Xét nội dung yêu cầu của anh Tưởng Đăng G: Căn cứ vào đơn yêu cầu, lời khai của các đương sự, xác nhận của chính quyền địa phương thì chị Nguyễn Thị Q có nơi cư trú cuối cùng tại xóm Tr, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An đã bỏ nhà và đi khỏi địa phương từ ngày 30/3/2014, không liên lạc với gia đình, không biết hiện nay làm gì ở đâu. Anh G đã áp dụng mọi cách thức tìm kiếm trong vòng hơn 2 năm qua, đồng thời đăng Thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị Q trên đài Phát thanh và truyền hình Nghệ An phát sóng thời sự lúc 11 giờ 30 phút các ngày 23,24,25 tháng 2 năm 2022,nhưng cũng không có tin tức gì của chị Q. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của anh G, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 01/2022/QĐST-DS ngày 14/3/2022 được đăng trên Báo Nhân dân các số 24246, 24247, 24248 vào các ngày 18, 19, 20 tháng 3 năm 2022 và nhắn tìm trên đài tiếng nói Việt Nam (VOV2) phát vào 17 giờ 30 phút các ngày 25, 26, 27 tháng 3 năm 2022; đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên hết thời hạn 4 tháng theo luật định nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Nguyễn Thị Q.

Như vậy có đủ căn cứ xác định chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985, có nơi cư trú cuối cùng tại xóm Tr, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An mất tích từ ngày 30/3/2014. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của anh Tưởng Đăng G.

. Về quyền quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

. Về lệ phí: Anh Tưởng Đăng G là người yêu cầu nên phải chịu lệ phí theo quy định.

. Về chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Anh Tưởng Đăng G là người yêu cầu nên anh G phải chịu tất cả các khoản chi phi theo quy định của pháp luật.

. Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là đúng quy định, có căn cứ nên cần chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ các Điều 68, 69 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 366, 367, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của anh Tưởng Đăng G.

Tuyên bố: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985; nơi cư trú cuối cùng: Xóm Tr, xã Tr, huyện N, tỉnh Nghệ An, mất tích kể từ ngày 30/3/2014.

2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Tưởng Đăng G phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Được khấu trừ vào số số 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu án phí, lệ phí số 0004545 ngày 22/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Nghệ An.

Anh Tưởng Đăng G phải chịu 3.300.000 đồng chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. (Anh G đã thực hiện xong).

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ