vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của ông Nguyễn Văn P. Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc L2, sinh năm 1959; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Q3, xã XL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang mất tích, ngày mất tích của bà Nguyễn Thị Ngọc L2 là ngày 01 tháng 01 năm …

Kể từ ngày quyết định của tòa án tuyên bố một người mất tích có hiệu lực pháp luật thì người đang quản lý tài sản của bà Nguyễn Thị Ngọc L2 tiếp tục quản lý tài sản đó khi bà Nguyễn Thị Ngọc L2 bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật dân sự 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Việc tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của ông Nguyễn Văn P. Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc L2, sinh năm 1959; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Q3, xã XL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang mất tích, ngày mất tích của bà Nguyễn Thị Ngọc L2 là ngày 01 tháng 01 năm …
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HUYỆN LG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẮC GIANG
Số: 02/2022/QĐST-VDS
LG, ngày 27 tháng 6 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện LG.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện LG tham gia phiên họp: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LG, tỉnh Bắc Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2022/TLST-VDS ngày 20 tháng 1 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2022/QĐST-VDS ngày 31 tháng 5 năm 2022, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên họp số 01/TB-TA ngày 03/6/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1956 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân Đ, thị trấn V, huyện LG, tỉnh Bắc Giang

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954 (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Văn TR, sinh năm 1973 (vắng mặt)

3. Chị Nguyễn Thị TH, sinh năm 1976(vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn TM, xã TH, huyện LG, tỉnh Bắc Giang

4. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1978(vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn NG, xã S huyện HK, tỉnh Lạng Sơn

5. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1960(vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố TM, thị trấn V, huyện LG, tỉnh Bắc Giang

6. Chị Đỗ Thị CH, sinh năm 1984(vắng mặt)

7. Bà Nguyễn Thị T8, sinh năm 1976(vắng mặt)

8. Anh Nguyễn Văn M3, sinh năm 1990(vắng mặt)

9. Anh Nguyễn Văn T7, sinh năm 1993(vắng mặt)

10. Bà Nguyễn Thị B4, sinh năm 1971(vắng mặt)

11. Anh Nguyễn Văn T9, sinh năm 1996(vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn Q3, xã XL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang

12. Chị Nguyễn Thị NG, sinh năm 1993(vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã HL1, huyện LG, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

-Người yêu cầu ông Nguyễn Văn P trình bày: Ông có bố là Nguyễn Văn V1, sinh năm 1930 (chết năm 2004) và bà Nguyễn Thị Th1, sinh năm 1927 (chết năm 1999) sinh được 07 người con gồm: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1952 (đã chết năm 1978), có vợ là bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954, có con là Nguyễn Văn TR, sinh năm 1973, Nguyễn Thị TH, sinh năm 1976 và Nguyễn Thị M, sinh năm 1978; Ông Nguyễn Văn Quy, sinh năm 1953 (đã chết), không có vợ con; Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1956; Bà Nguyễn Thị Ngọc L2, sinh năm 1959, có con là chị Đỗ Thị CH, sinh năm 1984; Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1960; Ông Nguyễn Xuân Hùng, sinh năm 1967 (đã chết năm 2021), có vợ là bà Nguyễn Thị T8, sinh năm 1976, các con là Nguyễn Văn M3, sinh năm 1990, Nguyễn Văn T7, sinh năm 1993; Ông Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1972 (đã chết năm 2014), có vợ là bà Nguyễn Thị B4, sinh năm 1971, con là Nguyễn Thị NG, sinh năm 1993, Nguyễn Văn T9, sinh năm 1996.

Năm 2017 bà Nguyễn Thị Ngọc L2 bỏ nhà đi khỏi địa phương, khi đi không nói cho gia đình biết là đi đâu, làm gì. Từ năm 2017 cho đến nay bà L2 không trở về địa phương, không liên lạc gì với gia đình. Gia đình đã tổ CH thông báo tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của bà L2. Nay ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện LG, tỉnh Bắc Giang tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc L2, sinh năm 1959; sinh quán, nơi đăng ký HKTT và nơi cứ trú cuối cùng: thôn Q3, xã XL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang mất tích.

Tại phiên họp ông Nguyễn Văn P vẫn giữ nguyên quan điểm trên.

-Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm bà Nguyễn Thị B, anh Nguyễn Văn TR, chị Nguyễn Thị TH, chị Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn H2, chị Đỗ Thị CH, bà Nguyễn Thị T8, anh Nguyễn Văn M3, anh Nguyễn Văn T7, bà Nguyễn Thị B4, anh Nguyễn Văn T9, chị Nguyễn Thị NG thống nhất trình bày: Các ông bà, anh chị nhất trí với lời khai của ông Nguyễn Văn P đã trình bày và không bổ sung gì thêm, thống nhất quan điểm đề nghị Tòa án tuyên bố bà bà Nguyễn Thị Ngọc L2, sinh năm 1959; sinh quán, nơi đăng ký HKTT và nơi cứ trú cuối cùng: thôn Q3, xã XL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang mất tích.

Tại phiên họp bà Nguyễn Thị B, anh Nguyễn Văn TR, chị Nguyễn Thị TH, chị Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn H2, chị Đỗ Thị CH, bà Nguyễn Thị T8, anh Nguyễn Văn M3, anh Nguyễn Văn T7, bà Nguyễn Thị B4, anh Nguyễn Văn T9, chị Nguyễn Thị NG đều có đơn xin vắng mặt.

-Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện LG tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên họp Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên họp sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 69 Bộ luật dân sự; Khoản 3 Điều 27; Điểm a khoản 2 Điều 35; Điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 387; Điều 389 Bộ luất tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 đề nghị Tòa án:

Chấp nhận đơn yêu cầu “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của ông Nguyễn Văn P. Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc L2, sinh năm 1959; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Q3, xã XL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang mất tích, ngày mất tích của bà Nguyễn Thị Ngọc L2 là ngày 01 tháng 01 năm 2018.

Kể từ ngày quyết định của tòa án tuyên bố một người mất tích có hiệu lực pháp luật thì người đang quản lý tài sản của bà Nguyễn Thị Ngọc L2 tiếp tục quản lý tài sản đó khi bà Nguyễn Thị Ngọc L2 bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật dân sự 2015.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về lệ phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện LG nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn P đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc L2, sinh năm 1959 (là em gái ông P), địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn Q3, xã XL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang mất tích. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện LG, tỉnh Bắc Giang.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện LG đã thụ lý, giải quyết việc dân sự theo đúng trình tự thủ tục tố tụng pháp luật dân sự. Tại phiên họp những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt nên Tòa án T9 hành phiên họp vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ vào lời trình bày của người yêu cầu, lời khai những người có liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự cùng văn bản xác nhận của chính quyền địa phương xã XL, huyện LG nhận thấy: Ông Nguyễn Văn Vân, sinh năm 1930 (chết năm 2004) và bà Nguyễn Thị Thuần, sinh năm 1927 (chết năm 1999) sinh được 07 người con gồm:

- Ông Nguyễn Văn Long, sinh năm 1952 (đã chết năm 1978), có vợ là bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954, có con là Nguyễn Văn TR, sinh năm 1973, Nguyễn Thị TH, sinh năm 1976 và Nguyễn Thị M, sinh năm 1978

- Ông Nguyễn Văn Quy, sinh năm 1953 (đã chết), không có vợ con.

- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1956

- Bà Nguyễn Thị Ngọc L2, sinh năm 1959, có con là chị Đỗ Thị CH, sinh năm 1984

- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1960

- Ông Nguyễn Xuân Hùng, sinh năm 1967 (đã chết năm 2021), có vợ là bà Nguyễn Thị T8, sinh năm 1976, các con là Nguyễn Văn M3, sinh năm 1990, Nguyễn Văn T7, sinh năm 1993

- Ông Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1972 (đã chết năm 2014), có vợ là bà Nguyễn Thị B4, sinh năm 1971, con là Nguyễn Thị NG, sinh năm 1993, Nguyễn Văn T9, sinh năm 1996

Năm 2017 bà Nguyễn Thị Ngọc L2 bỏ nhà đi khỏi địa phương, khi đi không nói cho gia đình biết là đi đâu, làm gì. Từ năm 2017 cho đến nay bà L2 không trở về địa phương, không liên lạc gì với gia đình. Gia đình đã tổ CH thông báo tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của bà L2.

Tòa án nhân dân huyện LG đã đăng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị Ngọc L2 trên Đài T9g nói Việt Nam trong 3 ngày liên tiếp 28, 29, 30/1/2022, trên Báo Công Lý trong 3 số liên tiếp, lần đầu tiên ngày 25/2/2022 và các ngày 01/3/2022 và ngày 4/3/2022. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức gì của bà L2. Vì vậy, ông Nguyễn Văn P đề nghị Tòa án tuyên bố Bà Nguyễn Thị Ngọc L2 mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự, Điều 387, 389 Bộ luật tố tụng dân sự nên được Tòa án chấp nhận.

Về xác định ngày mất tích của bà Nguyễn Thị Ngọc L2: Ông Nguyễn Văn P là người yêu cầu cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người thân trong gia đình của bà L2 đều không biết rõ ngày, tháng có tin tức cuối cùng về bà L2 mà chỉ biết là bà L2 đi khỏi nhà từ năm 2017. Từ năm 2017 thì bà L2 không có tin tức cũng như không liên lạc gì về với gia đình, vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự thì Tòa án xác định ngày có tin tức cuối cùng của bà L2 là ngày 01/01/2018.

Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người mất tích: Căn cứ vào Điều 69 Bộ luật dân sự năm 2015 thì khi quyết định của tòa án tuyên bố một người mất tích có hiệu lực pháp luật thì người đang quản lý tài sản của bà L2 tiếp tục quản lý tài sản đó khi bà L2 bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật dân sự 2015.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn P là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền lệ phí việc dân sự.

Chi phí thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố mất tích do người yêu cầu ông Nguyễn Văn P phải chịu (Số tiền này ông P đã nộp và thanh toán xong).

Các đương sự có quyền được kháng cáo quyết định theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 68, Điều 69 Bộ luật dân sự; Khoản 3 Điều 27; Điểm a khoản 2 Điều 35; Điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 387; Điều 389 Bộ luất tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của ông Nguyễn Văn P. Tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc L2, sinh năm 1959; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Q3, xã XL, huyện LG, tỉnh Bắc Giang mất tích, ngày mất tích của bà Nguyễn Thị Ngọc L2 là ngày 01 tháng 01 năm 2018.

Kể từ ngày quyết định của tòa án tuyên bố một người mất tích có hiệu lực pháp luật thì người đang quản lý tài sản của bà Nguyễn Thị Ngọc L2 tiếp tục quản lý tài sản đó khi bà Nguyễn Thị Ngọc L2 bị Toà án tuyên bố mất tích và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 66 và Điều 67 của Bộ luật dân sự 2015.

2. Về lệ phí việc dân sự: Ông Nguyễn Văn P được miễn nộp tiền lệ phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho các đương sự có mặt có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ