vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Vũ B về việc yêu cầu tuyên bố chị Thị Đa N mất tích. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 366 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DMC
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/QĐST-VDSDương Minh Châu, ngày 09 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DMC, TỈNH TN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Trọng Nghĩa.

Thư ký phiên họp: Ông Lê Hoàng Liêm - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DMC, tỉnh TN tham gia phiên họp:

Bà Lâm Phượng Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện DMC, tỉnh

TN mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 06/2021/TLST-DS ngày 01 tháng 12 năm 2021 về việc "Tuyên bố một người mất tích" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2022/QĐST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Vũ B, sinh năm 1984;

địa chỉ: Tổ 02, Ấp 1, xã BC, Huyện DMC, tỉnh TN (có mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 06-10-2021 và tại phiên họp,

người yêu cầu anh Nguyễn Vũ B trình bày:

Anh và chị Thị Đa N chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2007.

Trong thời gian chung sống vợ chồng anh và chị N cùng nhau sinh sống tại tổ 02, Ấp 1, xã BC, Huyện DMC, tỉnh TN. Đến ngày 22-9-2019, chị Thị Đa N tự ý bỏ nhà rời khỏi địa phương, đi đâu không rõ. Anh đã tìm kiếm nhiều lần nhưng không tìm thấy và cũng không có tin tức gì. Chị N đi biệt tích, gia đình có báo tin cho chính quyền địa phương, cũng không có tin tức xác thực về việc chị Thị Đa N còn sống hay đã chết.

Nay anh yêu cầu tuyên bố chị Thị Đa N, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú cuối

cùng: Tổ 02, Ấp 1, xã BC, Huyện DMC, tỉnh TN mất tích. Lý do, chị Thị Đa N đã biệt tích từ ngày 22 tháng 9 năm 2019. Trong quá trình giải quyết việc dân sự, anh B xác định chị N biệt tích từ ngày 27 tháng 9 năm 2019 đến nay không có tin tức, không có liên lạc gì với gia đình. Mục đích yêu cầu tuyên bố chị Thị Đa N, để làm thủ tục ly hôn và không có yêu cầu nào khác.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC, tỉnh TN phát

biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố

tụng dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm mở phiên họp. Tại phiên họp, Thẩm phán và Thư ký phiên họp tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, người tham gia phiên họp đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dụng: Đề nghị căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm d khoản 2 Điều 366,

Điều 387, Điều 388 và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 và Điều 69 Bộ luật Dân sự;

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Vũ B, về việc yêu cầu tuyên bố chị Thị

Đa N mất tích. Anh B phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được

thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Huyện DMC, tỉnh TN nhận định:

Anh Nguyễn Vũ B là chồng chị Thị Đa N, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú

trước khi biệt tích: Tổ 02, Ấp 01, xã BC, Huyện DMC, tỉnh TN. Chị Thị Đa N bỏ nhà ra đi vào ngày 22 tháng 9 năm 2019. Anh Nguyễn Vũ B xác định đến ngày chị Thị Đa N biệt tích là ngày 27 tháng 9 năm 2019, cho đến hiện tại không thấy về, anh B đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không có tin tức xác thực là chị N còn sống hay đã chết. Nay anh B yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Thị Đa N đã mất tích.

Ngày 13-12-2021, Tòa án nhân dân Huyện DMC, tỉnh TN ra Quyết

định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích số: 02/2021/QĐ-TA. Sau đó, trên cơ sở yêu cầu của anh B, Tòa án đã tiến hành các thủ tục. Đăng phát, thông báo trên Báo Tây Ninh trong 03 số liên tiếp đăng các ngày 24; 25 và ngày 27-12-2021. Đăng phát, thông báo trên Báo Nhân Dân trong 03 số liên tiếp đăng các ngày 26; 27 và ngày 28-12-2021. Đăng phát, thông báo trên Đài Tiếng Nói Việt Nam, thời gian phát sóng vào lúc 17 giờ 30 phút đến 18 giờ 00 phút các ngày 03; 04 và ngày 05-01-2022. Đăng phát, thông báo trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao theo đúng quy định tại Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hết thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Thị Đa N. Như vậy, kể từ ngày chị Thị Đa N bỏ đi cho đến nay đã hơn 02 năm liền nhưng không có tin tức xác thực về việc chị N còn sống hay đã chết. Vì vậy, anh Nguyễn Vũ B yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Thị Đa N mất tích là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự nên yêu cầu của anh B được chấp nhận.

Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của anh Nguyễn Vũ B thì chị Thị Đa

N bỏ đi biệt tích vào ngày 27 ngày 9 năm 2019.

Như vậy, quy định theo khoản 1, Điều 68 Bộ luật Dân sự thì ngày 27 ngày

9 năm 2019 là ngày phát sinh sự kiện pháp lý, ngày chị Thị Đa N bỏ đi biệt tích và kể từ ngày đó cho đến nay không có tin tức xác thực là chị Thị Đa N còn sống hay đã chết. Nên ngày mất tích của chị được xác định là ngày 27 ngày 9 năm 2019.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện DMC, tỉnh TN phù

hợp với nhận định của chủ tọa phiên họp nên ghi nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 37

của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, anh Nguyễn Vũ B phải chịu lệ phí Tòa án.

Anh Nguyễn Vũ B phải chịu các khoản chi phí tố tụng khác theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm d khoản 2 Điều 366, Điều 387, Điều 388 và

Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 68 và Điều 69 Bộ luật Dân sự;

Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-

2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Vũ B về việc yêu cầu tuyên bố

chị Thị Đa N mất tích.

Tuyên bố chị Thị Đa N, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú trước khi biệt tích:

Tổ 02, Ấp 01, xã BC, Huyện DMC, tỉnh TN mất tích vào ngày 27 ngày 9 năm 2019.

2. Về lệ phí: Anh Nguyễn Vũ B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lệ

phí yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự sơ thẩm mà anh B đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011886 ngày 26 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện DMC, tỉnh TN; anh B đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

3. Về chi phí tố tụng khác: Anh Nguyễn Vũ B phải chịu 8.100.000 (Tám

triệu, một trăm nghìn) đồng chi phí thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Ghi nhận anh Nguyễn Vũ B đã nộp xong.

4. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định

giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN

- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ