vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 01/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của Ông Trần Đ về việc tuyên bố mất tích.

Tuyên bố anh Trần Văn M mất tích. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Ông Trần Đ phải nộp 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0000755 ngày 16/02/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyệ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Việc dân sự yêu cầu tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của Ông Trần Đ về việc tuyên bố mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/QĐST-VDS
Ngày: 01-8-2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố mất tích.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Trung Dũng.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Xuyến.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên họp: Bà Lê Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông mở phiên họp công khai sơ thẩm giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2022/TLST-VDS ngày 17 tháng 2 năm 2022 về việc “Yêu cầu tuyên bố mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2022/QĐST-VDS ngày 18 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên họp só 01/2022/QĐHPH-VDS ngày 28/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil:

1. Người yêu cầu: Ông Trần Đ; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn M, sinh năm 1986; Nơi đăng ký HKTT và cư trú cuối cùng: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil tóm tắt nội dung vụ việc như sau:

Anh Trần Văn M trước đây sinh sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ, đến ngày 24/8/2004 anh M bỏ đi khỏi địa phương, sau đó 03 năm, vào năm 2007 có liên lạc về nhà, từ đó đến nay không có liên lạc gì, hiện nay không biết địa chỉ cụ thể ở đâu. Đã nhiều lần ông Đ đi tìm và đăng thông báo tìm kiếm trên đài tiếng nói Việt Nam và báo Công lý nhưng vẫn không có tin tức gì. Do đó ông Đ làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với anh Trần Văn M, sinh năm 1986; Nơi đăng ký HKTT và cư trú cuối cùng: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Đ có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil tuyên bố mất tích đối với anh Trần Văn M, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ giữa các đương sự không có sự tranh chấp nên đây là việc dân sự và Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông thụ lý và giải quyết là đúng với thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung yêu cầu tuyên bố mất tích:

Anh Trần Văn M là con ruột của ông Trần Đ, anh M có địa chỉ cư trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ, đến ngày 24/8/2004 anh M bỏ nhà đi khỏi địa phương không có tin tức gì.

Căn cứ vào đơn xin xác nhận ngày 09/2/2022 và biên bản xác M ngày 07/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil thì anh M có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đ, hiện nay anh M không có mặt tại địa phương, bỏ đi từ ngày 24/8/2004 cho đến nay không rõ tin tức, địa chỉ cụ thể, khi đi anh M không thông báo với chính quyền địa phương nên địa phương không nắm được anh M hiện đang ở đâu.

Trong quá trình tìm kiếm anh M thì ông Trần Đ đã thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh M trên Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng vào các ngày 06, 07, 08 tháng 01 năm 2022 nhưng cũng không có tin tức gì.

Trong quá trình giải quyết việc dân sự theo yêu cầu của ông Trần Đ, Tòa án đã ra Quyết định về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Trần Văn M, cụ thể như sau: Thông báo trên Đài tiếng nói Việt Nam phát sóng ba ngày liên tiếp vào các ngày 20, 21, 22 tháng 3 năm 2022 và nhắn tin tìm kiếm trên báo Công lý trong ba số liên tiếp vào các ngày 18, 22, 25 tháng 3 năm 2020; đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Trần Văn M.

Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

“Điều 68. Tuyên bố mất tích

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.”

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:

3.1 Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên họp: Thẩm phán, thư ký và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án đã thụ lý và giải quyết theo đúng trình tự, thẩm quyền theo quy định.

3.2 Về nội dung việc dân sự: Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 369, 370, khoản 2 Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Trần Đ về việc yêu cầu anh Trần Văn M mất tích.

Từ những phân tích trên, xét thấy việc ông Trần Đ yêu cầu tuyên bố anh Trần Văn M mất tích là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

. Về chi phí đăng, phát thông báo: Ông Trần Đ phải chịu chi phí đăng, phát thông báo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Trần Đ phải chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và Điều 39 và các Điều: 367, 369, 370, 372, 387, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của Ông Trần Đ về việc tuyên bố mất tích.

Tuyên bố anh Trần Văn M mất tích.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Ông Trần Đ phải nộp 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0000755 ngày 16/02/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đ.

3. Chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm: Ông Trần Đ phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) tiền chi phí đăng thông báo trên đài tiếng nói Việt Nam và trên báo công lý, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí ông Đ đã nộp tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo Quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, đương sự vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn này được tính từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày được thông báo, niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ