vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu tuyên bố ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) mất tích của bà Hoàng Thị L.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Hoàng Thị L phải nộp toàn bộ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí bà L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Bà Hoàng Thị L yêu cầu tuyên bố ông Ngô Sỹ T mất tích"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu tuyên bố ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) mất tích của bà Hoàng Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/QĐST-VDSBố Trạch, ngày 11 tháng 7 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Diệu.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên họp: Ông Đinh Văn Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2022/TLST - VDS ngày 11 tháng 01 năm 2022, về việc “Tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2022/QĐST - VDS ngày 24 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên họp số: 01/2022/QĐST-VDS ngày 04/7/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Hoàng Thị L, sinh năm 1981; nơi cư trú: thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt, nhưng trước đó đã có đơn xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T), sinh ngày 01/10/1978; quê quán: xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú cuối cùng: thôn S, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt do đã đi khỏi địa phương.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và lời khai trong quá trình giải quyết, người yêu cầu - bà Hoàng Thị L trình bày:

Bà và ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) kết hôn vào ngày 28/9/2001 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn ông bà chung sống không hạnh phúc, đến ngày 30/5/2017 ông T bỏ nhà đi, trước khi đi ông T không cho bà và gia đình bà biết là đi đâu, làm gì. Kể từ khi ông T bỏ nhà đi cho đến nay, ông T không liên lạc gì với bà cũng như gia đình bà. Bà đã tìm mọi cách liên lạc và tìm kiếm ông T khắp nơi nhưng không có thông tin gì của ông T. Hiện nay, bà không biết ông T ở đâu và làm gì. Vì vậy, bà có đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Bố Trạch tuyên bố ông T mất tích.

Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch đã thụ lý vụ việc và ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 01/2022/QĐ- TA ngày 28/01/2022 đối với ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T). Bà Hoàng Thị L đã làm các thủ tục đăng tin trên Báo Công lý 03 số là 16, 17, 18 vào ngày 25/02/2022 và các ngày 01, 04 tháng 3 năm 2022; nhắn tin qua Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOV AMS) Đài tiếng nói Việt Nam vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 03, 04, 05 tháng 3 năm 2022 và đăng tin trên cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình ngày 22/02/2022. Kể từ ngày đăng báo và nhắn tin cho đến nay ông T không về và cũng không liên lạc với bà L cũng như Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch.

Ngày 01/6/2022, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch tiến hành xác minh tại địa phương và người thân của ông T. Qua xác minh, bà Nguyễn Thị Thí (mẹ của ông T) cho biết: ông T đã đi khỏi địa phương từ đầu năm 2019 cho đến nay không trở về địa phương cũng không liên lạc gì với bà, khi đi ông T không nói cho bà và gia đình biết sẽ đi đâu, làm gì. Hiện nay, bà có nghe thông tin ông T đang đi làm ăn tại Đài Loan nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể, cũng không có số điện thoại để liên lạc với ông T. Ông Hồ Văn K - Trưởng thôn S, xã S xác nhận: ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) đã đi khỏi địa phương khoảng giữa năm 2019 cho đến nay, lúc ông T đi khỏi địa phương không báo với chính quyền địa phương, cũng không về và không giao dịch gì với địa phương. Hiện nay, địa phương không biết ông T đang ở đâu, làm gì và cũng không có phương tiện gì để liên lạc với ông T.

Tại Công văn số: 16/CV-CAX ngày 20/6/2022 của Công an xã Sộc cho biết: ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) đăng ký thường trú tại thôn Sơn Lý, xã S, huyện B từ lúc sinh ra cho đến nay. Hiện nay, ông T không có mặt ở địa phương, thông tin do người thân ông T cung cấp thì ông T đi xuất khẩu lao động từ giữa năm 2017 đến năm 2019 ông T có về địa phương nhưng sau đó tiếp tục đi lao động tại Trung Quốc cho đến nay. Quá trình làm thủ tục đi làm việc tại Trung Quốc, ông T không khai báo chính quyền địa phương, chính quyền địa phương và gia đình không biết địa chỉ cụ thể của ông T. Anh trai ông T là ông Ngô Sỹ C trú tại thôn S, xã S cho biết có liên lạc với với ông T qua mạng xã hội facebook, tên tài khoản là “Ngô T”. Ông C cũng đã gọi qua tài khoản này để Công an xã gặp nói chuyện với người đàn ông xưng tên Ngô Sỹ T. Qua trao đổi, người đàn ông xưng tên Ngô Sỹ T cho biết hiện tại đang sinh sống và lao động tại Trung Quốc, địa chỉ cụ thể người này không cung cấp cho Công an.

Tại công văn số: 2330/QLXNC-P5 ngày 24/01/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an xác nhận: ông Ngô Sỹ T xuất cảnh vào ngày 10/4/2017 và nhập cảnh về Việt Nam ngày 19/4/2017, hiện tại không có thông tin xuất cảnh.

Tại đơn xin giải quyết vắng mặt, bà Hoàng Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) mất tích.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch phát biểu quan điểm về việc giải quyết việc dân sự:

- Về tố tụng: Đây là quan hệ pháp luật yêu cầu tuyên bố một người mất tích; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) có nơi cư trú cuối cùng là thôn S, xã S, huyện B, do đó, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ khi thụ lý cho đến thời điểm mở phiên họp: Thẩm phán, Thư ký phiên họp và Hội đồng tham gia phiên họp đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng; Người yêu cầu đã thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

- Về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, điểm a khoản 2 Điều 227 và Điều 387 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự không chấp nhận yêu cầu của Hoàng Thị L tuyên bố ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) mất tích, vì ông T hiện tại vẫn có tin tức, liên lạc với gia đình.

- Về lệ phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí: buộc bà Hoàng Thị L nộp 300.000 đồng lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Hoàng Thị L, xác định quan hệ của việc dân sự là “Tuyên bố một người mất tích”; ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) có nơi cư trú cuối cùng là thôn Sơn Lý, xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình, do đó, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung việc dân sự:

Bà Hoàng Thị L và ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) kết hôn vào ngày 28/9/2001 tại UBND xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn ông bà chung sống không hạnh phúc nên năm 2019 ông T đã bỏ nhà đi làm ăn không cho bà L biết là đi đâu, làm gì. Bà L đã tìm kiếm ông T khắp nơi và thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng cụ thể đăng tin trên Báo Công lý 03 số là 16, 17, 18 vào ngày 25/02/2022 và các ngày 01, 04 tháng 3 năm 2022; nhắn tin qua Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOV AMS) Đài tiếng nói Việt Nam vào lúc 17 giờ 30 phút các ngày 03, 04, 05 tháng 3 năm 2022 và đăng tin trên cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình ngày 22/02/2022 nhưng cho đến nay bà L không nhận được tin tức gì của ông T. Tuy nhiên, kết quả xác minh và thông tin Công an xã Sộc cung cấp thì ông T vẫn thông tin, liên lạc với gia đình ông T (cụ thể là ngày 20/6/2022), mặc dù ông T không cho gia đình biết địa chỉ cụ thể hiện tại ông T đang sinh sống và làm việc ở đâu. Như vậy, ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) trong vòng 02 năm trở lại đây vẫn có tin tức, vẫn liên lạc với gia đình. Do đó, áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự và khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 387 Bộ luật tố tụng dân sự: không chấp nhận đơn yêu cầu của bà Hoàng Thị L về việc tuyên bố ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) mất tích.

Về lệ phí sơ thẩm việc dân sự: bà Hoàng Thị L phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 387 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Không chấp nhận yêu cầu tuyên bố ông Ngô Sỹ T (Ngô Sĩ T) mất tích của bà Hoàng Thị L.

2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Hoàng Thị L phải nộp toàn bộ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí bà L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002544 ngày 10 tháng 01 năm 2022. Bà L đã nộp đủ lệ phí việc dân sự.

3. Quyết định sơ thẩm, người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định hoặc Quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ