- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nùng Thanh T1- Nguyễn Thị B"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nùng Thanh T1:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH Q ---------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2022/QĐST-HNGĐ | H, ngày 05 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH Q
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Thu Phương - Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Q
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Q tham gia phiên họp: Ông Đặng Quang Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Q mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 81/2022/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2022 về việc: “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 11/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Chị Nùng Thanh T1, sinh năm 1998; Nơi cư trú: số nhà 1056, tổ 11, khu 9B, phường B, thành phố H, tỉnh Q. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1) Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1961; Nơi cư trú: số nhà 1056, tổ 11, khu 9B, phường B, thành phố H, tỉnh Q. Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
2) Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1960; Nơi cư trú: số nhà 1056, tổ 11, khu 9B, phường B, thành phố H, tỉnh Q. Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo Đơn yêu cầu về việc xác định cha cho con đề ngày 18/7/2022, bản tự khai đề ngày 15/8/2022 và trong quá trình giải quyết việc dân sự, chị Nùng Thanh T1 trình bày:
Chị và anh Nguyễn Anh T3 (sinh ngày 29/7/1996; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi chết: số 4, ngõ 24/3 đường Hoàng Quốc Việt, tổ 17, phường N, quận C, thành phố H) chung sống với nhau từ năm 2019 nhưng chị T1 và anh T3 không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền do thời gian đó đang có dịch bệnh Covid 19 và chị T1, anh T3 chưa chuẩn bị đủ giấy tờ theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân phường nên chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật được. Quá trình chung sống với nhau, chị T1 và anh T3 có 02 con chung là cháu gái Nguyễn Anh Thiên T4, sinh ngày 01/02/2020 và cháu trai Nguyễn Trí T5, sinh ngày 24/12/2021. Chị T1 sinh cháu trai và đặt tên là Nguyễn Trí T5 vào ngày 24/12/2021 theo Giấy chứng sinh số HN-004242, Quyển số 41, ngày cấp 24/12/2021, nơi cấp: Bệnh viện đa khoa Hồng Ngọc, thành phố Hà Nội. Đối với cháu gái Nguyễn Anh Thiên T4 thì chị T1 và anh T3 đã làm thủ tục xác nhận Cha - Con với anh T3, còn cháu trai Nguyễn Trí T5 chưa làm thủ tục xác nhận Cha - Con do anh Nguyễn Anh T3 chết vào ngày 18/01/2022 tại Khoa cấp cứu Bệnh viện E, phường Ng, quận C, thành phố H, nguyên nhân chết vì Covid-19 (theo Giấy báo tử số 123, quyển số 03 ngày 18/01/2022 của Bệnh viện E và Trích lục khai tử số 61 ngày 31/3/2022 của Ủy ban nhân dân phường N, quận C, thành phố H). Chị T1 và bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Anh T3 là ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị B đưa cháu trai Nguyễn Trí T5, sinh ngày 24/12/2021 đến Công ty TNHH Dịch vụ Khoa học Kỹ thuật Genpro (địa chỉ: 38M2 Trần Kim Xuyến, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội) để làm xét nghiệm ADN (loại mẫu: máu) giữa anh Nguyễn Anh T3 và cháu trai Nguyễn Trí T5, kết quả xét nghiệm ADN: anh Nguyễn Anh T3 có quan hệ huyết thống Cha - Con với cháu trai Nguyễn Trí T5 (theo Kết quả xét nghiệm ADN số KQ202569222 ngày 20/5/2022 của Công ty TNHH Dịch vụ Khoa học Kỹ thuật Genpro). Để đảm bảo quyền lợi cho cháu Nguyễn Trí T5 làm Giấy khai sinh có đầy đủ tên bố mẹ và nhập sổ hộ khẩu của gia đình, chị yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xác định anh Nguyễn Anh T3 là cha đẻ của cháu trai Nguyễn Trí T5, sinh ngày 24/12/2021, nơi sinh: tại Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị B đều trình bày: Quá trình chung sống đến nay, vợ chồng ông, bà sinh được 03 người con là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1987, Nguyễn Thị N, sinh năm: 1992 và Nguyễn Anh T3, sinh ngày 29/7/1996. Con trai ông, bà là anh Nguyễn Anh T3 chung sống với chị Nùng Thanh T1 từ năm 2019 đến khi con trai ông, bà chết vào ngày 18/01/2022 do Covid-19. Quá trình con trai ông, bà và chị T1 chung sống với nhau có 02 (Hai) con chung là cháu gái Nguyễn Anh Thiên T4, sinh ngày 01/02/2020 và cháu trai Nguyễn Trí T5, sinh ngày 24/12/2021. 02 (Hai) cháu Nguyễn Anh Thiên T4 và Nguyễn Trí T5 đều sinh tại Bệnh viện Hồng Ngọc ở thành phố Hà Nội. Đối với cháu gái Nguyễn Anh Thiên T4 thì anh T3 và chị T1 đã làm thủ tục xác nhận cha - con, còn cháu trai Nguyễn Trí T5 chưa làm thủ tục xác nhận cha con do con trai ông, bà chết vào ngày 18/01/2022 tại Khoa cấp cứu Bệnh viện E, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, nguyên nhân chết vì Covid-19. Vợ chồng ông, bà và chị T1 đưa cháu trai Nguyễn Trí T5 đến Công ty TNHH Dịch vụ Khoa học Kỹ thuật Genpro để làm xét nghiệm ADN (loại mẫu: máu) giữa anh Nguyễn Anh T3 và cháu trai Nguyễn Trí T5, kết quả xét nghiệm ADN: anh Nguyễn Anh T3 có quan hệ huyết thống Cha - Con với cháu trai Nguyễn Trí T5. Nay, chị Nùng Thanh T1 làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố H xác định anh Nguyễn Anh T3 là cha đẻ của cháu trai Nguyễn Trí T5 (sinh ngày 24/12/2021, nơi sinh: tại Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc, thành phố Hà Nội). Ông, bà đề nghị Tòa án giải quyết chấp nhận đơn yêu cầu của chị T1.
Tại phiên họp, chị Nùng Thanh T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Q phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đơn yêu cầu đến khi Tòa án mở phiên họp đảm bảo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; người yêu cầu đã được đảm bảo thực hiện các quyền, nghĩa vụ của minh đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
Về nội dung: Yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nùng Thanh T1 là có cơ sở, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của chị T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố H nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Nùng Thanh T1 yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Anh T3 là cha đẻ của cháu Nguyễn Trí T5 (tên tự đặt), sinh ngày 24/12/2021 tại Bệnh viện đa khoa Hồng Ngọc, thành phố Hà Nội là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do chị T1 có nơi cư trú tại thành phố H, tỉnh Q thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Q theo điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên họp, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T2 vắng mặt nhưng đều có đơn xin vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự nên Tòa án mở phiên họp giải quyết vắng mặt của bà B, ông T2 theo quy định tại khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nhận thấy: Chị Nùng Thanh T1 và anh Nguyễn Anh T3 chung sống với nhau từ năm 2019 nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Quá trình chung sống với nhau, chị T1 và anh T3 có 02 con chung là cháu gái Nguyễn Anh Thiên T4, sinh ngày 01/02/2020 và cháu trai Nguyễn Trí T5, sinh ngày 24/12/2021. Chị T1 sinh cháu trai và đặt tên là Nguyễn Trí T5 vào ngày 24/12/2021, theo Giấy chứng sinh số HN-004242, Quyển số 41, ngày cấp 24/12/2021, nơi cấp: Bệnh viện đa khoa Hồng Ngọc, thành phố Hà Nội. Đối với cháu gái Nguyễn Anh Thiên T4 thì chị T1 anh T3 đã làm thủ tục xác nhận Cha - Con, còn cháu trai Nguyễn Trí T5 chưa làm thủ tục xác nhận Cha - Con do anh Nguyễn Anh T3 chết vào ngày 18/01/2022 tại Khoa cấp cứu Bệnh viện E, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Chị T1 và bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Anh T3 là ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị B đưa cháu Nguyễn Trí T5 đến Công ty TNHH Dịch vụ Khoa học Kỹ thuật Genpro để làm xét nghiệm ADN (loại mẫu: máu) giữa anh Nguyễn Anh T3 và cháu Nguyễn Trí T5, kết quả xét nghiệm ADN: anh Nguyễn Anh T1 có quan hệ huyết thống Cha - Con với cháu Nguyễn Trí T5. Để đảm bảo quyền lợi cho cháu trai Nguyễn Trí T5 làm Giấy khai sinh có đầy đủ tên bố mẹ và để nhập sổ hộ khẩu gia đình, chị Thủy yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố H xác định anh Nguyễn Anh T3 là cha đẻ của cháu Nguyễn Trí T5, sinh ngày 24/12/2021, nơi sinh: tại Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc, thành phố Hà Nội.
Quá trình giải quyết việc dân sự, chị Nùng Thanh T1, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T2 đều khẳng định cháu trai đặt tên là Nguyễn Trí T5, sinh ngày 24/12/2021 (do chị Nùng Thanh T1 sinh ra) là con chung của chị T1 và anh Nguyễn Anh T3.
Tại phiên họp, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn T2 có đơn xin giải quyết vắng mặt và đều giữ nguyên ý kiến như trong các bản tự khai mà ông, bà đã trình bày trước đây.
Căn cứ vào Phiếu kết quả xét nghiệm ADN ngày 20/5/2022 của Công ty TNHH Dịch vụ Khoa học Kỹ thuật Genpro kết luận: anh Nguyễn Anh T3 có quan hệ huyết thống Cha - Con với Nguyễn Trí T5 (cháu trai do chị T1 sinh ngày 24/12/2021) với độ tin cậy 99,999999%.
Căn cứ Điều 11 của Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định về chứng cứ, chứng minh quan hệ cha, mẹ, con.
Xét thấy có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của chị Nùng Thanh T1, xác định anh Nguyễn Anh T3 là cha đẻ của cháu trai Nguyễn Trí T5 do chị T1 sinh.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nùng Thanh T1 phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 3 Điều 367; Điều 371 và Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 11 Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16/11/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của chị Nùng Thanh T1:
Xác định anh Nguyễn Anh T3 (sinh ngày 29/7/1996; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi chết: số 4, ngõ 24/3 đường Hoàng Quốc Việt, tổ 17, phường N, quận C, thành phố H) là cha đẻ của cháu trai Nguyễn Trí T5 do chị Nùng Thanh T1 sinh ngày 24/12/2021 theo Giấy chứng sinh số HN-004242, Quyển số 41, ngày cấp 24/12/2021, nơi cấp: Bệnh viện đa khoa Hồng Ngọc, thành phố Hà Nội.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nùng Thanh T1 phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0000933 ngày 28/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Q; chị Nùng Thanh T1 đã nộp đủ tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thành phố H có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Q có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - Người có qlnvlq; - VKS TP. H; - THADS TP. H; - TAND tỉnh Q; - VKSND tỉnh Q; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Mạnh Hùng |