vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:

Nguyên đơn: Anh Lý Anh S, sinh năm 1987. Bị đơn: Chị Lỳ Xì L, sinh năm 1991. Cùng trú tại: Khu phố A, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: a. Về quan hệ hôn nhân: anh Lý Anh S và chị Lỳ Xì L thỏa thuận, thống nhất, nhất trí thu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Anh S và Lỳ Sì L"
  • Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:
  • Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 54 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG TÈ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/QĐST-HNGĐMường Tè, ngày 15 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 01/2022/TLST/HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022, giữa: * Nguyên đơn: Anh Lý Anh S, sinh năm 1987. * Bị đơn: Chị Lỳ Xì L, sinh năm 1991. Cùng địa chỉ: Khu phố A thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. * Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Người được ủy quyền tham gia tố tụng: ông Nguyễn Duy Sỹ – Chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. 2. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhành huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Quang Tiến – Chức vụ: Phó Giám đốc. Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. 3. Công ty TNHH MTV số 24. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Anh Tuấn, sinh ngày: 20/8/1972. Chức vụ: Giám đốc. Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Văn Thành – Chức vụ: Kế toán Công ty TNHH MTV số 24. Địa chỉ: Khu phố 10, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 54; 55; 57; 69; 71; 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 07 tháng 11 năm 2022.

XÉT THẤY:

Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 07 tháng 11 năm 2022 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa:

- Nguyên đơn: Anh Lý Anh S, sinh năm 1987.

- Bị đơn: Chị Lỳ Xì L, sinh năm 1991. Cùng trú tại: Khu phố A, thị trấn Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: a. Về quan hệ hôn nhân: anh Lý Anh S và chị Lỳ Xì L thỏa thuận, thống nhất, nhất trí thuận tình ly hôn. b. Về con chung: Hai bên tự thỏa thuận, thống nhất, nhất trí: Anh Lý Anh S được quyền trực tiếp chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung là cháu Lý Quỳnh H, sinh ngày 19/4/2013 cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Lỳ Xì L được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lỳ Xì L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. c. Về tài sản chung các đương sự đề nghị ghi nhận như sau:

- Anh Lý Anh S được toàn quyền sở hữu và sử dụng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 021878 do UBND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu cấp ngày 04/7/2017 (diện tích đất ở đô thị có tổng diện tích là 104,0m2).

- Anh Lý Anh S được toàn quyền sở hữu và sử dụng: tất cả những tài sản chung phục vụ cho sinh hoạt gia đình hiện có như (bàn ghế phòng khách phòng bếp, tivi, giường, tủ quần áo…..). d. Về nợ chung các đương sự đề nghị ghi nhận như sau:

- Về số tiền 382.500.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm tám mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng) còn nợ Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 06/2019/HĐTD ngày 22/4/2019: Anh Lý Anh S có trách nhiệm, nghĩa vụ trả nợ toàn bộ số tiền còn nợ số tiền 382.500.000 đồng cho Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Về số tiền 400.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng) theo 02 hợp đồng tín dụng số 7804LAV2022 và 7804LAV202100629 còn nợ Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam – Chi nhánh huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu: Anh Lý Anh S có trách nhiệm, nghĩa vụ trả nợ toàn bộ số tiền còn nợ số tiền 400.000.000 đồng cho Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam – Chi nhánh huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Về số tiền 900.000.000 đồng (Bằng chữ: Chín trăm triệu đồng) – là tiền mua vật liệu xây dựng còn nợ Công ty TNHH MTV số 24: Anh Lý Anh S có trách nhiệm, nghĩa vụ trả nợ toàn bộ số tiền còn nợ số tiền 900.000.000 đồng (Bằng chữ: Chín trăm triệu đồng) cho Công ty TNHH MTV số 24. Trả nợ dần theo khả năng thanh toán của anh Lý Anh S. 3. Về án phí DSST: là 150.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm năm mươi nghìn đồng). Anh Lý Anh S và chị Lỳ Xì L mỗi người phải chịu số tiền là 75.000 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi lăm nghìn đồng). Anh S nhận nộp thay cho chị L số tiền 75.000 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi lăm nghìn đồng). Xác nhận anh S đã nộp số tiền 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0000653 ngày 04/10/2022 của Chi cục THADS huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Nay anh Lý Anh S được hoàn trả lại số tiền 150.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm năm mươi nghìn đồng). 4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ