- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn N về việc: Tuyên bố một người mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 36 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------------- Số: 02/2022/ QĐST-DSTC |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Lê Thị Thanh Bình.
Thư ký phiên họp: Bà Mồng Thu Hường - Thư ký viên Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Ông Giàng Chẩn Sồ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Giang mở phiên họp giải quyết việc dân sự thụ lý số 88/2021/TLST-DS ngày 15 tháng 12 năm 2021 về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 04/2022/QĐST-DSTC ngày 27 tháng 5 năm 2022; Quyết định hoãn phiên họp số 01 ngày 09/6/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn N; địa chỉ: Tổ dân phố số 1, phường P, quận B, TP. Hà Nội.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Bích N; địa chỉ cư trú cuối cùng: Tổ 18 (tổ 9 cũ), phường N, TP. H, tỉnh Hà Giang.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
- Theo đơn yêu cầu Tuyên bố một người mất tích ngày 10/12/2021 và bản tự khai ngày 16/12/2021, ông Nguyễn Văn N khai: Ông và bà Ngô Thị Bích N kết hôn ngày 12/6/2002, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện T, TP.Hà Nội (nay là phường C, quận N, TP. Hà Nội) do hai bên tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2004 thì xảy ra sự việc ông và bà N thực hiện hành vi phạm tội. Đến tháng 7 năm 2007 ông và bà N cùng bị bắt và xử phạt tù về tội Cướp tài sản. Ông bị xử phạt 08 năm tù và đi chấp hành án đến năm 2012 được tha tù trở về địa phương sinh sống, còn bà N bị xử phạt 07 năm tù và đi chấp hành án ở đâu ông không biết. Từ đó ông và bà N không nhận được thông tin của nhau. Từ năm 2015 đến nay ông không gặp lại bà N, ông đã tìm kiếm bà N nhiều lần nhưng không có kết quả. Bản thân ông và gia đình không biết hiện nay bà N ở đâu, không có liên lạc gì với ông, không ai biết hiện nay bà N cư trú ở đâu. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của ông và gia đình, ông N đề nghị Tòa án tuyên bố bà N mất tích.
* Toà án nhân dân thành phố H đã ra Quyết định Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 01/2022/QĐ-DSST ngày 07/01/2022 để thông báo tìm kiếm bà Ngô Thị Bích N trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật.
Việc thông báo được thực hiện trên Báo hàng ngày của Trung ương trong 03 số liên tiếp (báo Công Lý) các số: 05, 06, 07 tháng 01/2022; được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào hồi 17giờ 30 phút các ngày 21, 22, 23 tháng 01/2022, nhưng không có kết quả.
Tại phiên họp ông N có đơn đề nghị Tòa án mở phiên họp vắng mặt ông và vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Toà án tuyên bố bà Ngô Thị Bích N mất tích.
* Quan điểm của Đại diện VKS thành phố H:
- Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong qúa trình giải quyết vụ án. Xác minh thu thập chứ cứ đầy đủ, thông báo cho Viện Kiểm sát về việc Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự, ban hành quyết định mở phiên họp dân sự và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, cấp tống đạt văn bản tố tụng đúng quy định.
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Tại phiên họp Thẩm phán, thư ký phiên tòa thực hiện đúng pháp luật, thủ tục bắt đầu phiên họp được Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại Điều 369 BLTTDS.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người yêu cầu, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, các tài liệu do đương sự cung cấp phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết việc dân sự: Xét thấy ông N yêu cầu tuyên bố bà N là người mất tích là có cơ sở bởi lẽ: Ông N và bà N kết hôn ngày 2002 ông bà chung sống với nhau đến năm 2007 thì xảy ra sự việc ông bà phải đi chấp hành án phạt tù. Sau khi ra trại, từ năm 2015 thì bà N đã bỏ nhà đi cho đến nay không về. Ông N đã nhiều lần tìm kiếm bà N nhưng không có kết quả, không ai biết hiện nay bà N ở đâu. Qua các chứng cứ xác định được bà N đã đi khỏi nơi cư trú từ năm 2015 đến nay không về, việc tìm kiếm bà N đã được thực hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng theo đúng quy định của pháp luật, đến nay không có kết quả.
Vì vậy, căn cứ vào Điều 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 68- Bộ luật dân sự, cần chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố bà N là người mất tích của ông N là phù hợp và đúng với quy định của pháp luật
- Về án phí: Ông N chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp. Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang nhận định như sau:
. Xác định: Ông Nguyễn Văn N và bà Ngô Thị Bích N kết hôn ngày 12/6/2002, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn C, huyện T, TP. Hà Nội (nay là phường C, quận N, TP. Hà Nội) do hai bên tự nguyện, do đó, ông N và bà N là vợ chồng hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2004 thì xảy ra sự việc ông và bà N thực hiện hành vi phạm tội. Đến tháng 7 năm 2007 ông N và bà N cùng bị bắt và xử phạt tù về tội Cướp tài sản. Ông N bị xử phạt 08 năm tù và đi chấp hành án đến năm 2012 được tha tù trở về địa phương sinh sống, còn bà N bị xử phạt 07 năm tù và đi chấp hành án ở đâu ông N không biết. Từ đó ông N và bà N không nhận được thông tin của nhau, sau khi ra trại bà N đã bỏ đi cho đến nay không về.
. Theo công văn số 1142/CV-TGTX ngày 24/11/2021 của Trại giam T, Hà Nội, xác nhận bà Nđã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 31/8/2013 về cư trú tại tổ 09 (cũ), phường N, TP. H, tỉnh Hà Giang. Theo văn bản số 1755/TLXM-CATP ngày 16/07/2021của Công an thành phố H, tỉnh Hà Giang xác nhận bà N đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 18, trong hộ khẩu bà Trần Thị L, hiện vắng mặt tại địa phương. Như vậy, xác định thời gian bà Ngô Thị Bích N đã bỏ đi từ tháng 8 năm 2013 đến nay, trong thời gian qua ông N đã nhiều lần tìm kiếm bà N nhưng không có kết quả. Theo biên bản xác minh ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố H đã xác định được bà Ngô Thị Bích N đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2013 đến nay và không ai biết tin tức gì của bà N.
. Việc thông báo tìm kiếm bà Ngô Thị Bích N đã được thực hiện đăng tin tìm kiếm trên Báo hàng ngày của Trung ương trong 03 số liên tiếp (báo Công Lý) các số: 05, 06, 07 tháng 01/2022 và được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam vào hồi 17giờ 30 phút các ngày ngày 21, 22, 23 tháng 01/2022. Đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên đến nay vẫn không có tin tức gì của bà Ngọc.
. Từ những nhận định tại các mục [1], [2], [3] việc ông Nguyễn Văn N yêu cầu tuyên bố bà Ngô Thị Bích N mất tích là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật dân sự. Áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 36 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn N về việc: Tuyên bố một người mất tích.
2. Tuyên bố: Bà Ngô Thị Bích N; sinh năm: 1977; nơi cư trú cuối cùng: Tổ 09 (cũ) nay là tổ 18, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang là người mất tích.
3. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm: Ông Nguyễn Văn N chịu toàn bộ chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm (đã thi hành xong).
4. Về lệ phí DSST: Ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000đ, lệ phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố H biên lai số 0000622 ngày 15/12/2021.
5. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Ông Nguyễn Văn N được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể trừ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận -VKS TPHG; - Các ĐS; - Chi cục THADS; - UBND P. Nguyễn Trãi, TPHG; - Lưu BP-HS | THẨM PHÁN Lê Thị Thanh Bình |