vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐST-DS — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

TAND huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An Tuyên án 26/05/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà A về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” đối với:

Ông E, sinh năm: 1963 Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp G, xã H, huyện I, tỉnh Long An. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà A về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” đối với:
  • Căn cứ chính? Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 64 Bộ luật Dân sự
HUYỆN TÂN THẠNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/QĐST-DSTân Thạnh, ngày 26 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH - TỈNH LONG AN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: bà Đặng Nguyễn Phương Chi

Thư ký phiên họp: bà Nguyễn Thị Anh Kim - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên họp: bà Phạm Thị Kim The - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 49/2022/TLST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2022 về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 27/2022/QĐST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà A, sinh năm: 1974

Nơi cư trú: ấp B, xã C, thị xã D, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà A là người khởi kiện trong tranh chấp “Yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” với người bị kiện là ông E, sinh năm 1963 và bà F, sinh năm 1965, cùng địa chỉ ấp G, xã H, huyện I, tỉnh Long An.

Trong quá trình chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ cần thiết để khởi kiện vụ án nêu trên đến Tòa án, bà A được biết ông E tuy vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp G, xã H, huyện I, tỉnh Long An nhưng ông E đã bỏ đi biệt tích khỏi địa phương trên 06 tháng liền, từ khi đi khỏi địa phương đến nay ông E không quay về. Hiện nay bà A không có tin tức gì về ông E và cũng không xác định được ông E đang cư trú và sinh sống tại đâu.

Vì vậy nay bà A yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông E để bà A có đầy đủ thủ tục khởi kiện vụ án dân sự “Yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với người bị kiện là ông E và bà F.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh nhận định:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và lời khai của bà A thể hiện: trong quá trình chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ cần thiết để khởi kiện vụ án “Yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” với người bị kiện là ông E, sinh năm 1963 và bà F, sinh năm 1965, địa chỉ: ấp G, xã H, huyện I, tỉnh Long An thì A được biết tuy ông E vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp G, xã H, huyện I, tỉnh Long An nhưng ông E đã bỏ đi biệt tích khỏi địa phương trên 06 tháng liền. Hiện nay bà A không có tin tức gì về ông E. Bà A cũng không xác định được hiện nay ông E đang cư trú và sinh sống tại đâu.

Theo Biên bản xác minh ngày 09/5/2022, đại diện chính quyền địa phương xã H, huyện I xác nhận:

+ Ông E, sinh năm 1963 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp G, xã H, huyện I, tỉnh Long An nhưng hiện nay ông E không còn cư trú và sinh sống tại địa chỉ nêu trên.

+ Ông E đã bỏ đi biệt tích khỏi địa phương khoảng 05 - 06 năm nay. Từ khi biệt tích khỏi địa phương cho đến nay thì ông E không quay về địa phương tại ấp G, xã H, huyện I, tỉnh Long An. Hiện nay chính quyền địa phương không biết ông E đang cư trú và sinh sống tại đâu và cũng không có thông tin gì về ông E.

Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 159/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện I thể hiện ông E và bà F đã được Tòa án nhân dân huyện I giải quyết ly hôn.

Tại biên bản xác minh ngày 25/5/2022, bà F trình bày: trước đây bà F và ông E là vợ chồng nhưng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2015. Đến năm 2020, bà F và ông E được Tòa án nhân dân huyện I giải quyết ly hôn. Ông E không còn cư trú và sinh sống tại ấp G, xã H, huyện I, tỉnh Long An từ khoảng 06 - 07 năm nay. Từ khi bỏ địa phương đi biệt tích đến nay thì ông E không có quay về. Bà và ông E cũng không còn liên lạc với nhau. Tại ấp G, xã H, huyện I, tỉnh Long An không có nhà của ông E. Hiện nay bà không biết ông E đang cư trú và sinh sống tại đâu.

Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà A về việc yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông E.

Căn cứ vào các chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở để xác định ông E đã biệt tích khỏi địa phương 05 - 06 năm nay (tức đã biệt tích 06 tháng liền trở lên), hiện nay bà A không có tin tức gì về ông E và cũng không xác định được ông E đang cư trú và sinh sống tại đâu. Do vậy xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của A về việc yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông E theo quy định tại Điều 383 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về lệ phí: bà A phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 367, 369, 370, 371, 372, 381, các Điều từ 383 đến 386 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 64 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Chấp nhận yêu cầu của bà A về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” đối với:

Ông E, sinh năm: 1963

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp G, xã H, huyện I, tỉnh Long An.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: áp dụng khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1 khoản I mục B Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016).

Bà A phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0004276 ngày 09/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh sang tiền lệ phí. Bà A không phải nộp thêm.

Bà A phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.

Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp người cần tìm kiếm trở về.

Cỡ chữ