- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn N"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh, địa chỉ: Thôn R, xã O, thành phố L, tỉnh N đối với Đỗ Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 3 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2022/QĐ - TA | Cẩm Phả, ngày 17 tháng 01 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Với thành phần phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Trương Thị Túc
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hương Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số: 02/QĐ - TA, ngày 10 tháng 01 năm 2022 đối với:
Họ và tên: Đỗ Văn N, sinh ngày xx tháng x năm 19xx.
Nơi đăng ký HKTT tại: Thôn Q, xã L, huyện Đ, tỉnh Y; Chỗ ở hiện nay: Không cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đỗ Văn L, sinh năm 19xx (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 19xx; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 28/11/2008 bị Tòa án nhân dân quận K, thành phố N xử phạt 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 16/12/2010 N đã thi hành xong bản án trở về địa phương.
Vắng mặt tại phiên họp, có đơn xin vắng mặt.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hà Văn Dũng - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh: Bà Trương Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Đỗ Văn N là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 1999 đến nay, loại ma túy N thường sử dụng là heroine với hình thức sử dụng tiêm chích trực tiếp ma túy vào cơ thể. Đỗ Văn N đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Q, xã L, huyện Đ, tỉnh Y. Vào khoảng tháng 03/2021, N đến thành phố Cẩm Phả sống lang thang, không có nơi ở cố định, làm công việc tự do để có tiền sinh sống và mua ma túy sử dụng.
Ngày 19/11/2021, Công an phường T2, thành phố Cẩm Phả kiểm soát bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn thì phát hiện tại bãi trống thuộc tổ x, khu x, phường T2, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Đỗ Văn N đang sử dụng trái phép chất ma túy.
Qua làm việc, N khai nhận bản thân sống lang thang tại thành phố Cẩm Phả, không có công việc làm ổn định, sử dụng ma túy từ năm 1999; Công an phường T2, thành phố P đã tiến hành lấy lời khai và lấy mẫu nước tiểu của Đỗ Văn N đi xét nghiệm ma túy. Kết quả xét nghiệm ngày 19/11/2021 của Bệnh viện đa khoa P cho thấy Đỗ Văn N dương tính với ma túy (nhóm Morphin). Công an phường T2, thành phố Cẩm Phả đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Đỗ Văn N, đồng thời có Văn bản gửi Bệnh viện đa khoa P xác định tình trạng nghiện ma túy của Đỗ Văn N. Cùng ngày, Bệnh viện đa khoa P đã có phiếu trả lời kết quả xác định: Đỗ Văn N có nghiện ma túy (nhóm Morphin-Heroine).Trong thời gian làm việc với Công an, Đỗ Văn N đã có đơn xin đi cai nghiện.
Tại phiếu trả lời xác minh của Công an xã L, huyện Đ, tỉnh Y và theo đơn trình bày của bà Nguyễn Thị T1 (mẹ Đỗ Văn N) xác đinh Đỗ Văn N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Q, xã L, huyện Đ, tỉnh Y. N là đối tượng nghiện ma túy nhiều năm nay và đã từng bị Tòa án nhân dân quận K, thành phố H xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hiện N vắng mặt tại địa phương, không có nơi cư trú ổn định.
Ngày 19/11/2021, Ủy ban nhân dân phường T2, thành phố Cẩm Phả có quyết định số 205/QĐ-UBND giao Đỗ Văn N cho Cơ sở cai nghiện tỉnh N quản lý trong thời gian lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Cùng ngày, Công an phường T2, thành phố Cẩm Phả đã bàn giao N vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh N để quản lý trong thời gian lập hồ sơ cai nghiện bắt buộc.
Ngày 15/12/2021, Công an phường T2, thành phố P ban hành Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Văn bản đề nghị Phòng Tư pháp thành phố P thẩm định tính pháp lý của hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn N.
Ngày 31/12/2021, Tổ tư vấn lập hồ sơ cai nghiện bắt buộc thành phố Cẩm Phả đã họp xét, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn N; Phòng Lao động
- Thương binh và Xã hội thành phố Cẩm Phả đã có Công văn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn N.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị trình bày ý kiến: Đỗ Văn N là đối tượng nghiện ma túy, hiện nay sống lang thang, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh đối với Đỗ Văn N, thời gian là 24 tháng, kể từ ngày bàn giao N vào cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về trình tự, thủ tục thực hiện và giải quyết việc xem xét, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn N đã được Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P, tỉnh N và Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh N thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 95 và khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bổ sung năm 2020; điểm d khoản 1 Điều 55 Luật phòng chống ma túy năm 2021; khoản 2, Điều 3; khoản 2 Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; khoản 1, 2 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi bổ sung Nghị định 221/2013/NĐ-CP, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh đối với Đỗ Văn N trong thời hạn từ 21 tháng đến 24 tháng.
XÉT THẤY:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn N của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh là hợp pháp, đúng trình tự, đúng thẩm quyền và còn thời hiệu theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Nghị định số 221/2013/NĐ- CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số 136/2016/ NĐ- CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ- CP.
Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm; nhân thân, nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: Đỗ Văn N là đối tượng nghiện ma túy từ năm 1999 đến nay. N sử dụng ma túy loại Heroine bằng cách chích trực tiếp vào cơ thể. N có nhân thân xấu từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”. Tháng 12/2010, chấp hành án phạt tù trở về, N tiếp tục lệ thuộc vào ma túy, không có nơi ở cố định. Theo lời khai cũng như quan điểm thể hiện trong đơn xin vắng mặt tại phiên họp xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Đỗ Văn N cùng các biên bản xác minh thể hiện: Bản thân nghiện ma túy Heroine trong nhiều năm nay. Để có tiền sử dụng ma túy N thường đi lang thang ai thuê công việc gì thì làm để có tiền sử dụng ma túy. N nhận thức được hành vi sử dụng ma túy là trái quy định pháp luật nên đề nghị Tòa án tạo điều kiện được áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc để N có thể từ bỏ được ma túy, trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Văn N xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, làm lan tràn tệ nạn ma túy trong cộng đồng, gây tác động tiêu cực đến quá trình đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy trong xã hội. Mặc dù nhận thức rõ tác hại của ma tuý cũng như quy định của pháp luật nghiêm cấm sử dụng trái phép các chất ma tuý nhưng N vẫn cố tình thực hiện nên thuộc đối tượng áp dụng theo đúng quy định tại điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính. Do đó, việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Văn N là cần thiết.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào khoản 2 Điều 95 và khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bổ sung năm 2020; điểm d khoản 1 Điều 55 Luật phòng chống ma túy năm 2021;
Căn cứ khoản 2, Điều 3; khoản 2 Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; khoản 1, 2 Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi bổ sung Nghị định 221/2013/NĐ-CP; Điều 31 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh, địa chỉ: Thôn R, xã O, thành phố L, tỉnh N đối với Đỗ Văn N.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày giao Đỗ Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 19/11/2021 (Theo quyết định số: 205/QĐ-UBND ngày 19/11/2021 của chủ tịch UBND phường T2 về việc giao cho Cơ sở Cai nghiện tỉnh Quảng Ninh quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc).
3. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P, tỉnh N có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh N có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định; Người bị đề nghị Đỗ Văn N có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định của Tòa án.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành Quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố P, tỉnh N; Công an thành phố P, tỉnh N; Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh N.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - VKSND tp.Cẩm Phả; - Trưởng Công an tp.Cẩm Phả; - Trưởng Phòng LĐ - TB&XH tp.Cẩm Phả; - UBND p.Cẩm Thành, tp.Cẩm Phả; - UBND xã L, huyện Đ, tỉnh Y; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh; - Lưu Hồ sơ. | THẨM PHÁN (đã ký) Trương Thị Túc |