vanban.org

Quyết định 02/2022/QĐ-PT — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 02/03/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Thạch Thị S, giữ nguyên Quyết định tạm đình chỉ số 63/2021/QĐST-DS ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh T

Về án phí phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí phúc thẩm cho bà Thạch Thị S. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Xét Quyết định tạm đình chỉ"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Thạch Thị S, giữ nguyên Quyết định tạm đình chỉ số 63/2021/QĐST-DS ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh T
  • Căn cứ chính? Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2022/QĐ-PTTrà Vinh ngày 02 tháng 3 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT KHÁNG CÁO

ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trịnh Hữu Bình

Các Thẩm phán:

Ông Lê Thành Trung

Ông Đặng Văn Hùng

- Thư ký phiên họp: Bà Huỳnh Bích Nhân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên họp: Ông Thạch Vũ - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ số 63/2021/QĐST-DS ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh đã căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 214 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp bồi hoàn giá trị quyền sử dụng đất, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

1. Ông Thạch N, sinh năm 1930; địa chỉ khóm B, phường T, thành phố V, tỉnh T (đã chết).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:

1. Bà Thạch Thị R, sinh năm 1941;

2. Ông Thạch K, sinh năm 1956;

3. Ông Sơn Thị P, sinh năm 1949;

4. Ông Thạch C, sinh năm 1964;

5. Bà Thạch Thị Cà H, sinh năm 1930 (đã chết)

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Thạch Thị Cà H: Bà Thạch Thị S, sinh năm 1959; địa chỉ khóm M, phường T, thành phố V, tỉnh T.

Người đại diện hợp pháp của bà Thạch Thị R, ông Thạch K, bà Sơn Thị P, ông Thạch C: Bà Thạch Thị S, sinh năm 1959; địa chỉ khóm M, phường T, thành phố V, tỉnh T, theo văn bản ủy quyền ngày 23/12/2020.

- Bị đơn: Bà Thạch Thị Thêu U, sinh năm 1955; địa chỉ số 79/8, đường N, khóm C, phường B1, thành phố V, tỉnh T.

- Người kháng cáo: Bà Thạch Thị S là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trong vụ án.

Tại đơn kháng cáo ngày 04 tháng 01 năm 2022, bà Thạch Thị S kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết hủy Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 63/2021/QĐST-DS ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh T.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp: Xét thấy kháng cáo của bà Thạch Thị S là không có cơ sở chấp nhận vì vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất trước đó giữa ông Thạch N với bà Thạch Thị Thêu U đang được Tòa án nhân dân tối cao mượn hồ sơ để xem xét, giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm do có khiếu nại của bà Thạch Thị Thêu U, nên cần thiết phải có kết quả giải quyết của vụ án này mới có thể tiếp tục giải quyết vụ án tranh chấp tiền bồi hoàn giá trị quyền sử dụng đất được. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Thạch Thị S, giữ nguyên Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 63/2021/QĐST-DS ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh T.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến của Kiểm sát viên, xét kháng cáo của bà Thạch Thị S, Hội đồng phúc thẩm nhận định:

Nguyên đơn ông Thạch N(chết) có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là bà Thạch Thị R, ông Thạch K, bà Sơn Thị P, ông Thạch C, bà Thạch Thị Cà H (chết), do bà Thạch Thị S là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Thạch Thị Thêu U giao trả phần đất diện tích 1.521,8m2 thuộc thửa 78, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh T (nay là khóm S, phường T, thành phố V, tỉnh T).

- Tại Bản án số 21/2015/DS-ST ngày 07/5/2015 của Tòa án nhân dân thành phố V tuyên xử: Công nhận phần đất tranh chấp diện tích 1.590m2 (thực đo 1.521,8m2), thửa số 78, tòa bản đồ số 8, tọa lạc tại tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh T (nay là khóm S, phường T, thành phố V, tỉnh T) cho các đồng nguyên đơn (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch N).

- Tại Bản án số 26/2016/DS-PT ngày 15/01/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh T tuyên xử sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hộ bà Thạch Thị Thêu U được quyền tiếp tục sử dụng diện tích 1.590m2 (thực đo 1.521,8m2), thửa số 78, tòa bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh T (nay là khóm S, phường T, thành phố V, tỉnh T).

- Tại Quyết định giám đốc thẩm số 263/2019/DS-GĐT ngày 07/11/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy Bản án dân sự phúc thẩm 26/2016/DS-PT ngày 15/01/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh T và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm 21/2015/DS-ST ngày 07/5/2015 của Tòa án nhân dân thành phố V.

Sau khi án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật bà Thạch Thị Thiêu U đã chuyển nhượng diện tích 1.590m2 (thực đo 1.521,8m2), thửa số 78, tòa bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh T (nay là khóm S, phường T, thành phố V, tỉnh T) cho người khác. Do không còn đất nên ngày 23/12/2020, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Thạch N gồm: Bà Thạch Thị R, ông Thạch K, bà Sơn Thị P, ông Thạch C, bà Thạch Thị Cà H do bà Thạch Thị S làm đại diện hợp pháp có đơn khởi kiện yêu cầu bà Thạch Thị Thêu U bồi thường giá trị đất và chi phí cải tạo đất. Trong quá trình giải quyết vụ án này, bà Thạch Thị Thêu U có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tối cao xem xét giám đốc thẩm đối với Quyết định giám đốc thẩm số 263/2019/DS-GĐT ngày 07/11/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 11/6/2021 Vụ Giám đốc kiểm tra II Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 706/CV-GĐKT về việc mượn toàn bộ hồ sơ vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” để xem xét, giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm.

Vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và vụ án “Tranh chấp bồi hoàn giá trị đất” có liên quan trực tiếp với nhau, do đó cần phải có kết quả giải quyết giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao thì mới giải quyết được toàn diện, khách quan nội dung vụ án “Tranh chấp bồi hoàn giá trị đất”, nên Tòa án cấp sơ thẩm tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả giải quyết giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao là có căn cứ, đúng pháp luật.

Từ những phân tích trên, kháng cáo của bà Thạch Thị S là không có cơ sở chấp nhận.

Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phù hợp với nhận định của Hội đồng nên được chấp nhận.

Do bà S là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Thạch Thị S, giữ nguyên Quyết định tạm đình chỉ số 63/2021/QĐST-DS ngày 17/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh T

2. Về án phí phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí phúc thẩm cho bà Thạch Thị S.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ