vanban.org

Quyết định 02/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 14/07/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị C mất tích của anh Nguyễn Văn T.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1983; Nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang mất tích kể từ ngày 14/7/2021. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố chị C mát tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị C mất tích của anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2021/QĐST- VDSTân Yên, ngày 14 tháng 7 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Thế Đăng

Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 10/2020/TLST-VDS ngày 08 tháng 12 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 10/2021/QĐST- VDS ngày 05 tháng 7 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981

Nơi cư trú: thôn Đ, xã S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. (đề nghị giải quyết vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1983

Nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn đề nghị giải quyết việc dân sự và bản tự khai tại Tòa án, anh Nguyễn Văn T trình bày:

Năm 2002, anh đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S với chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1983; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn Đ, xã S. Vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị C đã bỏ đi biệt tích khỏi địa phương từ năm 2005 cho đến nay. Từ khi chị C bỏ nhà đi đến nay, bản thân anh và hai bên gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì. Nay, anh làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Yên tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1983, nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm giải quyết việc dân sự: Tòa án không niêm yết thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự là không đúng quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Các thủ tục tố tụng khác đã thực hiện đúng pháp luật. Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Văn T, tuyên bố chị Nguyễn Thị C mất tích. Anh T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang nhận định:

Về thủ tục tố tụng, thẩm quyền giải quyết: anh Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố một người mất tích đối với với chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1983; nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên đã thụ lý giải quyết yêu cầu việc dân sự là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc vi phạm trong thủ tục niêm yết: Theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự, việc niêm yết công khai văn bản tố tụng được thực hiện trong trường hợp không thể cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp văn bản tố tụng. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương được biết không có tin tức của chị C nên không cấp, tống đạt văn bản trực tiếp cho chị C được, Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý giải quyết việc dân sự. Hết thời hạn niêm yết (15 ngày) vẫn không thấy có tin tức gì của chị C, việc niêm yết không đảm bảo là chị C nhận được thông tin về văn bản được niêm yết nên Tòa án đã thực hiện bước tiếp theo ở mức độ thông báo rộng rãi hơn, đó là Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự. Như vậy, khi đã ra Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú thì chỉ thông báo trên đài, báo mà không làm ngược lại là niêm yết công khai nữa. Hết thời hạn 04 tháng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng vẫn không có tin tức gì của chị C thì Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự cũng không cần niêm yết công khai. Vì vậy, tại khoản 4 Điều 388 Bộ luật tố tụng dân sự quy định, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn thông báo trên báo, đài thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu chứ không quy định thời hạn là 15 ngày để niêm yết. Từ những căn cứ nêu trên, khẳng định, Tòa án không niêm yết Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú và Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự là đúng.

Về việc anh T yêu cầu tuyên bố chị C mất tích: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1983 ở thôn Đ, xã S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang là vợ của anh Nguyễn Văn T. Chị C đã bỏ nhà đi biệt tích từ năm 2005. Từ đó đến nay, chị C không liên lạc với gia đình và địa phương. Nơi cư trú cuối cùng của chị C được xác định ở thôn Đ, xã S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Anh T và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có kết quả nên anh yêu cầu Tòa án tuyên bố chị C mất tích. Tòa án đã tiến hành thông báo tìm kiếm chị C trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật nhưng đã hết thời hạn thông báo 04 tháng mà không có tin tức gì của chị C. Qua xác minh với chính quyền địa phương đều xác nhận từ năm 2005 đến nay đều không có tin tức gì của chị C. Xét thấy, anh T yêu cầu tuyên bố chị C mất tích và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ theo khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự. Tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự quy định: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó;...”. Trong trường hợp này, chị C đã biệt tích 15 năm liền. Do vậy, Tòa án cần chấp nhận yêu cầu của anh T, tuyên bố chị C mất tích theo quy định tại Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đồng lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 361; Điều 362; Điều 367; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 387; Điều 388; Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự;

Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị C mất tích của anh Nguyễn Văn T.

2. Tuyên bố chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1983; Nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã S, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang mất tích kể từ ngày 14/7/2021.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại biên lai AA/2020/0000125 ngày 08/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận anh T đã nộp đủ tiền lệ phí sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

- Anh Nguyễn Văn T, chị Nguyễn Thị C có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết quyết định.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự đối với quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ