- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định số 02/2021/QĐST-VDS ngày 20/4/2021"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2021/QĐST-VDS | Krông Búk, ngày 20 tháng 4 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Anh Thái.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Ông Trần Văn Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Krông Búk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 17/2020/TLST-VDS ngày 06 tháng 10 năm 2020 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 08/2021/QĐ-MPH ngày 29 tháng 3 năm 2021.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1986 – có mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Bình T, sinh năm 1983.
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Chị Đặng Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Trần Bình T mất tích để có căn cứ giải quyết ly hôn.
- Về quản lý tài sản và nợ chung: Chị Đặng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên họp đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự và đề nghị chủ tọa phiên họp chấp nhận đơn yêu cầu của chị Đặng Thị H ra quyết định tuyên bố mất tích đối với anh Trần Bình T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Krông Búk nhận định:
. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Nơi cư trú cuối cùng của người liên quan anh Trần Bình T tại: Thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Người yêu cầu chị Đặng Thị H có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Trần Bình T mất tích. Vì vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về yêu cầu giải quyết tuyên bố một người mất tích: Chị Đặng Thị H và anh Trần Bình T là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 27/12/2004 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi cưới vợ chồng về sinh sống tại thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Đến khoảng năm 2014 thì vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra anh Trần Bình T đã bỏ nhà đi từ năm 2015 cho đến nay không có tin tức gì. Chị Đặng Thị H đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có kết quả, gia đình và bạn bè anh T không ai biết hiện nay anh T đang làm gì, ở đâu. Đến nay chị H vẫn không có tin tức của gì của anh T.
Xét đơn yêu cầu của chị Đặng Thị H là có cơ sở theo quy định tại điều 387 Bộ luật tố tụng dân sự, sau khi Tòa án nhân dân huyện Krông Búk thụ lý việc dân sự và xác minh tại nơi cư trú và chính quyền địa phương thì xác định được: Anh Trần Bình T là chồng của chị Đặng Thị H, có hộ khẩu thường trú tại địa phương thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Anh T và chị H kết hôn năm nào thì địa phương không biết, chỉ biết là sau khi cưới thì anh T và chị H không sinh sống ở địa phương, đến khoảng năm 2011 sau khi sinh hai người con thì vợ chồng chị H mới về địa phương sinh sống. Thời gian sinh sống tại địa phương thì gia đình anh T, chị H thuộc diện hộ nghèo, đến thời điểm hiện tại năm 2020 thì gia đình chị H vẫn thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ. Quá trình sinh sống tại địa phương thì vào khoảng năm 2015 (không nhớ tháng cụ thể), anh T bỏ đi khỏi địa phương, từ năm 2015 cho đến nay không thấy anh T về lại địa phương. Khi anh T đi khỏi địa phương không thông báo tạm vắng cho chính quyền cũng như ban tự quản thôn H nên địa phương không biết anh T hiện nay đi đâu, làm gì.
Chị H đã cố gắng tìm kiếm nhiều nơi, nhưng vẫn không biết tin tức gì về anh T hiện đang cư trú ở đâu hay làm gì. Để có cơ sở giải quyết việc dân sự Tòa án đã thực hiện việc đăng tin trên Báo Công lý ba số liên tiếp vào các ngày 20, 24, 27/11/2020, nhắn tin tìm anh Trần Bình T; đăng phát tin trong 03 ngày liên tiếp trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 13, 14, 15/11/2020. Đến nay đã hết thời hạn công bố thông báo (04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo cuối cùng trên báo Công lý số 095 ngày 27/11/2020) nhưng vẫn không có tin tức gì về anh Trần Bình T. Vì vậy, xét yêu cầu của chị Đặng Thị H là có căn cứ nên cần chấp nhận.
- Về quản lý tài sản chung: Chị Đặng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
. Về lệ phí: Chị Đặng Thị H phải chịu lệ phí việc dân sự theo quy định. Về chi phí đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích chị Đặng Thị H phải chịu và đã nộp đủ.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 3 Điều 27; khoản 2 Điều 146; Điều 370; Điều 372; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng: Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố anh Trần Bình T mất tích.
2. Về quản lý tài sản chung: Chị Đặng Thị H không yêu cầu nên không xem xét.
3. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2019/0011653 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk. Chị Đặng Thị H đã nộp đủ lệ phí việc dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Nôi nhaän:
| - TAND tænh Ñaék Laék; - VKSND huyeän Kroâng Buùk; - Chi cuïc THADS huyeän Kroâng Buùk; - UBND xã Chư Kbô, huyện Krông Búk; - Người yêu cầu; - Löu HS, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP đã ký Lê Anh Thái |