vanban.org

Quyết định 02/2021/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 24/03/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Văn T.

Tuyên bố: Bà Trần Thị Tr, sinh năm: 1977, nơi đăng ký HKTT: ấp số d, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh, địa chỉ cư trú sau cùng: ấp số b, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh mất tích. Đối với biện pháp quản lý tài sản của bà Trần Thị Tr: Không xem xét giải quyết, do không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2021/QĐST-VDSC, ngày 24 tháng 3 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thanh Thảo.

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hồng Nhung - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 530/2020/TLST-VDS ngày 05 tháng 10 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 37/2021/QĐST-VDS ngày 15 tháng 3 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lê Văn T, sinh năm: 1976; địa chỉ: ấp số b, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Tr, sinh năm: 1977; Nơi đăng ký HKTT: ấp số d, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: ấp số b, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Tại đơn yêu cầu đề ngày 06-5-2020, biên bản lấy lời khai ngày 04-11-2020 và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là ông Lê Văn T trình bày:

Ông và bà Trần Thị Tr làm lễ cưới vào năm 1999 và về sinh sống bên quê của ông tại ấp số b, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc được 06 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm thường hay cự cải với nhau. Đến ngày 02-01-2014, bà Tr tự ý rời khỏi nhà chồng, bỏ nhà đi khỏi địa phương biệt tích cho đến nay. Từ ngày bà Tr bỏ đi, không liên hệ với ông, cũng không liên hệ với bất cứ ai khác trong gia đình. Ông đã tìm đến những nơi bà Tr từng cư trú và cố gắng liên hệ tin tức bà Tr thông qua người thân, bạn bè, nhưng đều không tìm thấy, cũng không ai biết được tin tức của bà Tr. Vào ngày 04-5-2017, do cha mẹ ruột của bà Tr thấy bà Tr bỏ nhà chồng đi lâu quá mà không trở về, nên xin với ông cắt chuyển hộ khẩu bà Tr về lại chung hộ khẩu của cha mẹ bà Tr tại ấp số d, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Do ông hoàn toàn không thể tìm kiếm được bà Tr, không biết bà Tr đang làm gì, ở đâu, nên nay ông làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Tr mất tích để ông làm thủ tục khởi kiện ly hôn theo quy định.

Tại phiên họp hôm nay, ông Lê Văn T có mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố bà Trọn mất tích.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết việc dân sự từ khi Tòa thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ pháp luật, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phiên họp hôm nay, Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp đã thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên họp sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong việc dân sự: Từ khi thụ lý việc dân sự cũng như tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung giải quyết việc dân sự: Vị đề nghị áp dụng các Điều 369, 370, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Văn T về việc tuyên bố bà Trần Thị Tr mất tích. Về quản lý tài sản của bà Tr: Do không có yêu cầu, nên không xem xét giải quyết. Ngoài ra, Vị đề nghị nghĩa vụ chịu lệ phí việc dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện C nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách tố tụng của đương sự và thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Ông Lê Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Trần Thị Tr, sinh năm: 1977, nơi đăng ký HKTT: ấp số d, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh, địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: ấp số b, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định ông Lê Văn T là người yêu cầu; bà Trần Thị Tr là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; quan hệ pháp luật là “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” và việc dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C.

[2] Xét yêu cầu của ông Lê Văn T về việc yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị Tr mất tích là có cơ sở. Bởi lẽ: Ông T, bà Tr kết hôn vào năm 1999 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MC ngày 25-6-2007. Từ ngày 02-01-2014, bà Tr tự ý bỏ đi khỏi địa phương ấp số b, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh cho đến nay không trở về, được Công an ấp số b và Công an ấp số d, xã MC xác nhận cùng ngày 06-5-2020. Đồng thời, theo các Biên bản tiếp xúc xác minh cùng ngày 04-11-2020 của Tòa án với chính quyền địa phương ấp số b, xã MC (quê cư trú bên ông T), với chính quyền địa phương ấp số d, xã MC (quê cư trú bên cha mẹ ruột của bà Tr) và với mẹ ruột bà Tr là bà Nguyễn Thị L đều thống nhất xác định bà Tr đã bỏ đi khỏi địa phương biệt tích 07 năm nay mà không có tin tức.

[3] Sau khi thụ lý việc dân sự về yêu cầu tuyên bố bà Trần Thị Tr mất tích của ông Lê Văn T, Tòa án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu mất tích số 147/2020/QĐ-TA ngày 04-11-2020 để thông báo tìm kiếm bà Trần Thị Tr. Quyết định này đã được đăng trên báo Công Lý ba số liên tiếp là số 097 ngày 04-12-2020, số 098 ngày 08-12-2020, số 099 ngày 11-12-2020; Được đăng phát trên sóng Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Nam Bộ (Kênh VTV9) lúc 17h58’ - 18h của ba ngày liên tiếp là 12, 13 và 14-11-2020; Đồng thời, được đăng trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân, để thông báo tìm kiếm bà Trần Thị Tr. Cho đến nay đã hết 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên (ngày 12-11-2020) mà bà Tr vẫn không có tin tức.

[4] Do bà Trần Thị Tr đã biệt tích từ 02-01-2014 cho đến nay, mặc dù Tòa án và ông T đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng, nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà Tr còn sống hay đã chết, hiện đang ở đâu, sinh sống và làm gì. Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của ông Lê Văn T về việc yêu cầu tuyên bố bà Tr mất tích.

[5]. Đối với biện pháp quản lý tài sản của bà Trần Thị Tr: Ông Lê Văn T không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[6]. Về chi phí tố tụng và lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lê Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.

[7]. Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên họp là phù hợp với nhận định của Tòa án, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 68, 149, 150, 361, 366, 367, 369, 370, 371, 372, 388, 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tiểu mục 1 Mục I phần B Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016).

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Lê Văn T.

Tuyên bố: Bà Trần Thị Tr, sinh năm: 1977, nơi đăng ký HKTT: ấp số d, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh, địa chỉ cư trú sau cùng: ấp số b, xã MC, huyện C, tỉnh Trà Vinh mất tích.

Đối với biện pháp quản lý tài sản của bà Trần Thị Tr: Không xem xét giải quyết, do không có yêu cầu.

2. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn T phải chịu tổng cộng là 2.431.000 đồng (Hai triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng) chi phí đăng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trên báo Công lý và phát sóng trên sóng Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Nam Bộ (Kênh VTV9). Ông T đã nộp đủ và đã chi trả xong.

3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lê Văn T phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) mà ông T đã nộp theo Biên lai số AA/2020/0000395 ngày 28-9-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định, đương sự vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo tính ngày nhận được quyết định hoặc được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ