- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Căn cứ chính? Điều 175 Bộ luật Dân sự; Điều 32 Luật Hòa giải; Điều 33 Luật Hòa giải
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2021/QĐST-DS | Quảng Xương, ngày 16 tháng 7 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÕA GIẢI THÀNH TẠI TÕA ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
Sau khi nghiên cứu hồ sơ yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án thụ lý số 11/2021/TLST-VDS ngày 30/6/2021 về việc “Yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại tòa án” của những người yêu cầu:
1. Ông Đinh Xuân H, sinh năm: 1966
Nơi cư trú: Thôn N, xã Ng, huyện X, tỉnh H.
2. Chị Hoàng Thị Vân A, sinh năm: 1985
Nơi cư trú: Thôn B, xã Ng, huyện X, tỉnh H.
3. Anh Nguyễn Tiến Th, sinh năm 1992.
4. Chị Lê Thị H, sinh năm 1992.
Cùng nơi cư trú: Thôn B, xã Ng, huyện X, tỉnh H.
Căn cứ vào các Điều 9, 32, 33, 34, 35, 36 của Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ vào Điều 175 Bộ luật dân sự 2015
Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 30/6/2021;
NỘI DUNG HÕA GIẢI THÀNH
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là việc dân sự về yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án, thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
[2] Nội dung yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án:
* Ý kiến của người khởi kiện Ông Đinh Xuân H:
Gia đình tôi được quyền sử dụng lô đất có diện tích 273m2, tại địa chỉ xã Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, tại thửa đất số 480(3), tờ bản đồ số 5, đất đã được UBND huyện Quảng Xương cấp GCN quyền sử dụng đất số AM999716, số vào sổ H-04566/QSDĐ ngày 22/07/2008, đứng tên vợ chồng Tôi là Đinh Xuân H và Hứa Thị L. Tháng 12 năm 2020, gia đình Tôi chuyển nhượng lô đất này cho gia đình anh Nguyễn Tiến Th sinh năm 1992 và chị Lê Thị H sinh năm 1992 cùng trú tại thôn Uy Bắc, xã Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương.
Về nguồn gốc thửa đất: Thửa đất này là một phần của thửa 480 tờ bản đồ số 5, bản đồ địa chính xã Quảng Ngọc, tách ra thành 03 thửa, sau khi tách thửa được UBND huyện Quảng Xương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các hộ giáp ranh xây nhà kiên cố, tường bao quanh, sử dụng ổn định, không có tranh chấp.
Lô đất của Tôi có 2 phần, phần phía trước và phần phía sau tiếp giáp 1m làm lối đi lại (sơ đồ như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Sau khi Tôi ký hợp đồng chuyển nhượng cho gia đình anh Th, chị H. Trong quá trình đang Tôi làm thủ tục đề nghị UBND xã Quảng Ngọc và các cơ quan chức năng làm thủ tục cấp giấy CNQSDĐ cho anh Th và chị H thì gia đình chị Hoàng Thị Vân A là chủ sở hữu của lô đất bên cạnh, trước đó được cùng tách ra từ thửa đất 480 với gia đình Tôi (H) xây tường rào sang phần phía sau đất của gia đình Tôi chiều ngang 1m, chiều dài chạy theo chiều dài của phần đất phía sau bịt lối đi lại giữa hai phần.
* Ý kiến của người bị kiện chị Hoàng Thị Vân A: Hiện nay gia đình Tôi đang ở tại mảnh đất trên trục đường liên xã Quảng Ngọc đi Quảng Trường. Một mặt giáp gia đình ông Th, một mặt giáp gia đình ông H. Phần diện tích đã làm sổ đỏ có mặt đường liên thôn là 6m, chiều sâu 39m. Còn phần diện tích đất mua thêm của gia đình ông Th giáp với gia đình nhà ông H có diện tích chiều ngang 7m, chiều sâu 22,8m đến nay vẫn chưa làm được sổ đỏ. Tôi đã xây nhà ở và tường rào.
Nay ông H làm đơn đòi gia đình Tôi trả lại 1m đất theo sổ đỏ của ông H là phần đuôi 7m và đầu 7m chiều dài 22,8m. Tôi có nguyện vọng mời cán bộ địa chính về đo theo sổ đỏ của nhà ông H và xác định rõ ranh giới đất giữa gia đình nhà Tôi và gia đình ông H. Nếu như việc đo đạc thể hiện gia đình nhà Tôi lấn chiếm vào phần đất của ông H thì Tôi tự nguyện tháo rỡ. Còn nếu không có sự lấn chiếm xảy ra thì gia đình Tôi cũng xin được giữ nguyên hiện trường.
* Ý kiến anh Th và chị H: Tôi đồng ý Tôi có trách nhiệm xây dựng tường rào ngăn cách 2 gia đình trên phần đất của Tôi. Chiều rộng của đất nhà Tôi là 6m, chiều dài đất nhà Tôi là 22,8m. Tôi không yêu cầu thẩm định đất.
Những nội dung các bên thỏa thuận, thống nhất được:
Các đương sự thống nhất về việc giải quyết vụ án như sau:
- Chị Vân A đồng ý để ông Đinh Xuân H tháo dỡ tường rào ngăn cách thửa đất đang tranh chấp thuộc thửa 480(3) tờ bản đồ số 05, bản đồ địa chính xã Quảng Ngọc hoặc chị Vân A tự tháo dỡ.
- Ông H tự nguyện hỗ trợ cho gia đình chị Vân A số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) là chi phí phá bỏ tường đã xây, vì mục đích giữ tình cảm hàng xóm để không xảy ra tranh chấp về phần đất này nữa.
- Chị Vân A đồng ý nhận 4.000.000đ (bốn triệu đồng) vì mục đích giữ tình cảm hàng xóm để không xảy ra tranh chấp về phần đất này nữa và tự nguyện phá bỏ bức tường gia đình chị đã xây ngăn cách lô đất của nhà chị và của nhà ông H.
- Các bên thống nhất vợ chồng anh Th và chị H có trách nhiệm xây lại tường ngăn cách ranh giới giữa hai thửa đất của hai gia đình. Phần phía trước của lô đất giáp với đất của gia đình chị Vân A có chiều dài 16,2m và chiều rộng 6m. Phần phía sau của lô đất (thửa thứ hai) tiếp giáp với đất nhà chị Vân A có chiều dài 22,8m, rộng 0 m (tức là lối đi lại từ thửa thứ nhất xuống thửa thứ hai lô đất của nhà ông H là 1 m); Chiều rộng của đất nhà chị Vân A là 6m.
- Các bên thống nhất không yêu cầu thẩm định đất và tự nguyện thỏa thuận yêu cầu công nhận hòa giải đối thoại thành.
Các đương sự đã tự nguyện thực hiện sau khi thống nhất tại Tòa án:
Sau khi thỏa thuận thống nhất tại Tòa án thì vào hồi 18 giờ 00 phút ngày 30/6/2021 tại xã Quảng Ngọc, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa các bên đã lập biên bản thỏa thuận, nhận tiền thống nhất đã thực hiện như sau:
- Gia đình chị Hoàng Thị Vân A đã nhận đủ 4.000.000đ (bốn triệu đồng) tiền hỗ trợ từ gia đình ông Đinh Xuân H.
- Gia đình chị Hoàng Vân A đã tự nguyên phá bỏ bức tường xây giữa hai lô đất của gia đình chị và gia đình ông H.
- Gia đình anh Nguyễn Tiến Th đã xây tường phân cách giữa hai thửa đất theo thỏa thuận. Phần thửa đất của anh Th nhận chuyển nhượng tiếp giáp với gia đình bà L là chiều rộng của thửa đất, có kích thước 07 m.
QUYẾT ĐỊNH
1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Ông Đinh Xuân H tự nguyện hỗ trợ cho gia đình chị Vân A số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) là chi phí phá bỏ tường đã xây, vì mục đích giữ tình cảm hàng xóm để không xảy ra tranh chấp về phần đất này nữa.
- Gia đình chị Hoàng Thị Vân A tự nguyện đồng ý và đã nhận đủ 4.000.000đ (bốn triệu đồng) tiền hỗ trợ từ gia đình ông Đinh Xuân H. Gia đình chị đã tự nguyện phá bỏ bức tường xây ngăn cách ranh giới giữa hai thửa đất của gia đình chị và gia đình ông H.
- Gia đình anh Nguyễn Tiến Th có trách nhiệm và đã thực hiện việc xây lại tường ngăn cách ranh giới giữa hai thửa đất của hai gia đình theo thỏa thuận trên phần đất hiện tại là của nhà ông H (của nhà anh Th sau khi được chuyển nhượng). Phần phía trước của lô đất giáp với đất của gia đình chị Hoàng Thị Vân A có chiều dài 16,2m và chiều rộng 6m. Phần phía sau của lô đất (thửa thứ hai) tiếp giáp với đất nhà chị Hoàng Thị Vân A có chiều dài 22,8m, rộng 0 m (tức là lối đi lại từ thửa thứ nhất xuống thửa thứ hai lô đất của nhà ông H là 1 m); chiều rộng của đất nhà chị Vân A là 6m. Lô đất của nhà ông H chuyển nhượng cho anh Th có vị trí phía Đông giáp đường liên xã; phía Bắc giáp với gia đình chị Hoàng Thị Vân A (như mô tả ở trên); phía Nam giáp nhà ông Th và gia đình ông Phan Văn Th; phía Tây giáp với nhà bà L (phần thửa đất của anh Th nhận chuyển nhượng tiếp giáp với gia đình bà L là chiều rộng của thửa đất, có kích thước 07 m).
Nếu bên nào mà còn vi phạm theo cam kết trên thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật hiện hành.
2. Về chi phí hòa giải tại Tòa án: Các bên đương sự không phải chịu.
3. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về Thi hành án dân sự.
4. Những người yêu cầu có quyền đề nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà không thực hiện được quyền đề nghị theo đúng thời hạn thì thời gian đó không tính vào thời hạn đề nghị. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
| Nơi nhận: - VKSND h. Quảng Xương; - Chi cục Thi hành án dân sự h. Quảng Xương; -UBND xã Quảng Ngọc; - Những người yêu cầu; - Lưu: Hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Vũ Đại Long |