vanban.org

Quyết định 02/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 11/02/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Đại D đối với bà Lê Thị H.

Tuyên bố bà Lê Thị H, sinh năm 1976, địa chỉ cư trú số 28/14 khóm ĐTA, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lê Đại D phải chịu lệ phí sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0003726 ngày … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Đại D đối với bà Lê Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2020/QĐST-VDSLong Xuyên, ngày 11 tháng 02 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Văn PH.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Huỳnh Trung Hiếu - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên: Ông Nguyễn Phú Hữu -Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2020 tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 16/2017/TLST–VDS ngày 30 tháng 11 năm 2017 “Về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quyết định mở phiên họp số: 02/2020/QĐST – VDS ngày 07 tháng 01 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Lê Đại D, sinh năm 1979.

Địa chỉ: số 35/2 khu phố BP B, phường BC, thị xã TA, tỉnh BD (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phan Hòa N, sinh năm 1987. Địa chỉ: 20/10A khóm ĐTA, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG. Theo giấy ủy quyền số 267, ngày 18/04/2018 do Văn phòng công chứng Nhật Quang chứng nhận (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị H, sinh năm 1976.

Địa chỉ: 28/14 khóm ĐT A, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú ngày 23/10/2017 và tại phiên họp ông Phan Hòa N đại diện theo ủy quyền của ông Lê Đại D trình bày:

Năm 2011 ông Lê Đại D yêu cầu xin ly hôn với bà Lê Thị H tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, kết quả giải quyết theo bản án số 67/2011/HNGĐ-ST ngày 15/7/2011, tuyên xử không xem xét giải quyết về quan hệ tài sản chung.

Sau khi ly hôn, bà H không thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung, không thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng mặc dù nhiều lần ông D đã liên lạc trong thời gian dài nhưng không tìm được bà H trở về gia đình để giải quyết tài sản chung của vợ chồng là phần diện tích đất 75,7m2; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 00188/BC, ngày 09/02/2010 do Ủy ban nhân dân huyện TA, tỉnh BD cấp cho ông Lê Đại D và bà Lê Thị H.

Ngày 09/8/2016, ông D có đơn yêu cầu Công an phường MT, thành phố LX, tỉnh AG xác nhận bà Lê Thị H, sinh năm 1976 đã bỏ địa phươngđi từ năm 2011 cho đến nay. Mục đích của ông D yêu cầu tuyên bố bà H mất tích là để bổ sung hồ sơ giấy tờ nhà đất của ông D.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, xác định: Bà Lê Thị H, sinh năm 1976 có nơi cư trú cuối cùng tại số 28/14, khóm ĐTA, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG đã bỏ địa phương đi biệt tích từ năm 2011 cho đến nay đã quá hai năm, không có tin tức gì về bà H đã chết hay còn sống. Hiện không rõ bà H đang ở đâu, làm gì. Ông D đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có bất cứ tin tức gì về bà H.

Nhận thấy, việc bà H bỏ nơi cư trú đi biệt tích trong thời gian dài đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông D nên ông D yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tuyên bố bà H mất tích là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Đièu 68 Bộ luật dân sự, khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 361, 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên chấp nhận yêu cầu của ông D đối với bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai các văn bản tố tụng, Quyết định mở phiên họp. Tại phiên họp, người yêu cầu ông Lê Đại D do ông Phan Hòa N đại diện theo ủy quyền có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H vắng mặt nên căn cứ vào Khoản 2, Khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự là đúng quy định pháp luật.

Ông Lê Đại D ủy quyền cho ông Phan Hòa N Theo giấy ủy quyền số 267, ngày 18/04/2018 do Văn phòng công chứng Nhựt Quang chứng nhận. Việc ủy quyền phù hợp quy định tại Điều 562 và Điều 563 Bộ Luật dân sự năm 2015 nên chấp nhận.

Nội dung việc dân sự: Năm 2011 ông Lê Đại D khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bà Lê Thị H tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Kết quả giải quyết theo bản án số 67/2011/HNGĐ-ST ngày 15/07/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang quyết định ông D được ly hôn với bà H. Về quan hệ tài sản chung của vợ chồng Tòa án không xem xét giải quyết.

Xét yêu cầu của ông D yêu cầu tuyên bố bà H mất tích tại nơi cư trú là để bổ sung hồ sơ nhà đất giữa ông và bà H giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Qua ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên về việc giải quyết việc dân sự đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của ông Lê Đại D tuyên bố bà Lê Thị H, sinh năm 1976, địa chỉ 28/14 khóm HT, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG mất tích.

Căn cứ đơn yêu cầu xác nhận ngày 09/08/2016 của ông Lê đại D, được Ban khóm ĐT A, phường MT, thành phố LX và Công an phường MT, thành phố LX, tỉnh AG xác nhận: Bà Lê Thị H, sinh năm 1976, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ 28/12 khóm ĐTA, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG không có mặt tại địa pH đi từ năm 2011 đến nay, bà H đi đâu, làm gì không rõ.

Tại phiên họp, ông Phan Hòa N đại diện theo ủy quyền của ông Lê Đại D yêu cầu tuyên bố bà Lê Thị H mất tích để bổ sung hồ sơ nhà đất giữa ông D và bà H đối với tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn.

Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, xác định: Bà Lê Thị H, sinh năm 1976 có nơi cư trú cuối cùng tại số 28/14, khóm ĐTA, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG đã bỏ địa pH đi biệt tích từ năm 2011 cho đến nay đã quá hai năm, không có tin tức gì về bà H đã chết hay còn sống. Hiện không rõ bà H đang ở đâu, làm gì. Ông D đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có bất cứ tin tức gì về bà H. Thông tin tìm kiếm bà H đã được đăng tìm kiếm trên báo, đài, cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao và Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang là phù hợp quy định tại điêu 385 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nhận thấy, việc bà H bỏ nơi cư trú đi biệt tích trong thời gian dài đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông D nên yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tuyên bố bà H mất tích là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự, khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, Điều 361, 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông D.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

-Căn cứ:

Khoản 3 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điều 92, Điều 93, Khoản 1 Điều 149, Khoản 2, Khoản 3 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 68, Điều 562, Điều 563 Bộ luật dân sự 2015.

Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Đại D đối với bà Lê Thị H.

Tuyên bố bà Lê Thị H, sinh năm 1976, địa chỉ cư trú số 28/14 khóm ĐTA, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Lê Đại D phải chịu lệ phí sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0003726 ngày 30 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông D đã nộp đủ.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Ông D có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Bà H có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên có quyền kháng nghị quyết định trong hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ