- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích chị Nguyễn Thị Thu H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Công H – sinh năm 1990
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2020/QĐST -VDS Ngày 13-03-2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
v/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Đỗ Thị Thanh Hương
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 13/03/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố L. Toà án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 12/2019/TLST- VDS ngày 25 tháng 10 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2020/QĐ- VDS ngày 09 tháng 03 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Công H
Địa chỉ: Tổ 01,phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên họp).
Người bị yêu cầu: Chị Nguyễn Thị Thu H
Địa chỉ: Tổ 01, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 01,phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai ( Đi biệt tích từ ngày 21/02/2017).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu và tại bản tự khai anh Phạm Công H trình bày: Anh Phạm Công H và chị Nguyễn Thị Thu H tự nguyện kết hôn ngày 27/05/2009 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn cuộc sống chung hạnh phúc được 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, đến khoảng tháng 02/2017 không hiểu vì lý do gì chị Nguyễn Thị Thu H đã bỏ nhà đi không thông báo cho ai biết. Sau khi chị Nguyễn Thị Huyền bỏ đi anh Phạm Công H đã gọi điện thoại liên lạc với chị Nguyễn Thị Thu H nhưng không liên lạc được, anh Phạm Công H đã hỏi thăm qua người quen bạn bè và gia đình chị Nguyễn Thị Thu H nhưng không ai biết chị Nguyễn Thị Thu H đi đâu làm gì. Anh Phạm Công H đã đi tìm kiếm nhiều nơi và đăng tin tìm kiếm chị Nguyễn Thị Thu H trên đài phát thanh truyền hình nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Nguyễn Thị Thu H. Đến nay chị Nguyễn Thị Thu H đã bỏ nhà đi được hơn 02 năm chưa về nên anh Phạm Công H đã làm thủ tục thông báo tìm kiếm trên đài truyền hình Lào Cai nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Nguyễn Thị Thu H.
Vì vậy anh Phạm Công H làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố L tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H sinh ngày 19/05/1990 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 01, phường C, thành phố L mất tích.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đề nghị Tòa án nhân dân thành phố L áp dụng khoản 1 điều 68 Bộ luật Dân sự , điều 149, điều 370 , Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 – Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Công H, tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H sinh ngày 19/05/1990 có đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Tổ 01, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân thành phố L nhận định:
Anh Phạm Công H và chị Nguyễn Thị Thu H tự nguyện kết hôn ngày 27/05/2009 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn cuộc sống chung hạnh phúc được 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, đến khoảng tháng 02/2017 không hiểu vì lý do gì chị Nguyễn Thị Thu H đã bỏ nhà đi không thông báo cho ai biết. Sau khi chị Nguyễn Thị Huyền bỏ đi anh Phạm Công H đã gọi điện thoại liên lạc với chị Nguyễn Thị Thu H nhưng không liên lạc được, anh Phạm Công H đã hỏi thăm qua người quen bạn bè và gia đình chị Nguyễn Thị Thu H nhưng không ai biết chị Nguyễn Thị Thu H đi đâu làm gì. Anh Phạm Công H đã đi tìm kiếm nhiều nơi và đăng tin tìm kiếm chị Nguyễn Thị Thu H trên đài phát thanh truyền hình nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Nguyễn Thị Thu H.
Sau khi thụ lý việc dân sự Tòa án nhân dân thành phố L đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm và tiến hành thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định tại các điều 384; 385 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng hết thời hạn thông báo chị Nguyễn Thị Thu H vẫn không có mặt tại Tòa án, cũng không có tin tức xác thực về việc chị Nguyễn Thị Thu H còn sống hay đã chết. Vì vậy Tòa án nhân dân thành phố L thấy rằng việc anh Phạm Công H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H mất tích là có căn cứ cần được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngày 12/3/2020 anh Phạm Công H có đơn xin vắng mặt tại phiên họp, tại đơn xin vắng mặt anh Phạm Công H vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự, yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H sinh ngày 19/05/1990 mất tích.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 149, điều 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Công H – sinh năm 1990
- Tuyên bố chị Nguyễn Thị Thu H - sinh ngày 19/05/1990.
Địa chỉ: Tổ 01, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú cuối cùng: Tổ 01, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai mất tích.
-Về lệ phí: Anh Phạm Công H phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0006422 ngày 25/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND tỉnh - VKSND tỉnh, TP - Người yêu cầu(1) - THADSTP - Lưu HS, TA | Đỗ Thị Thanh Hương |