- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2020/QĐST- VDS | TP. Hải Dương, ngày 25 tháng 6 năm 2020. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Nhan.
Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 06/2020/TLST-VDS ngày 30 tháng 12 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2020/QĐST-VDS ngày 05 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên họp số 01/2020/QĐST-VDS ngày 15/6/2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; ĐKHKTT: Xóm Q, thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1980; Nơi cư trú cuối cùng trước khi mất tích: Xóm Q, thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp, chị Nguyễn Thị H trình bày: Bố chị là ông Nguyễn Văn L1 kết hôn với mẹ chị là bà Trần Thị L2 và sinh được 2 người con là chị và chị Nguyễn Thị N. Mẹ chị đã chết năm 1988. Đến năm 1989 bố chị kết hôn với bà Nguyễn Thị Ng sinh được một người con là chị Nguyễn Thị Ng1. Năm 2009, bố chị chết. Gia đình chị đăng ký hộ khẩu và cư trú tại xóm Q, thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Năm 1999, chị N đã bỏ nhà đi, mặc dù gia đình chị đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhiều nơi và nhiều năm nay nhưng vẫn không có tin tức gì xác thực chị Nguyễn Thị N còn sống hay đã chết. Để thuận tiện cho việc giải quyết công việc liên quan đến đất đai của chị nên chị giữ nguyên yêu cầu và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố H tuyên bố chị Nguyễn Thị N mất tích; Chị H xác định chị N không có tài sản gì ở địa phương. Chị xin vắng mặt tại phiên họp.
Xác minh tại Công an xã T, thành phố H xác định: Chị Nguyễn Thị N có đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: Xóm Q, thôn C, xã T, thành phố H. Chị N đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 1999 đến nay không có tin tức gì, không ai biết chị N còn sống hay đã chết.
Tòa án đã có công văn xác minh việc xuất, nhập cảnh của chị N tại Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ công an. Ngày 30/3/2020, Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ công an có công văn trả đề nghị Tòa án bổ sung thông tin về ngày sinh, số chứng minh nhân dân, số hộ chiếu (nếu có) để có cơ sở trả lời. Tuy nhiên hiện chị H không nhớ ngày, tháng sinh của chị N cũng không còn giấy khai sinh cũng như giấy tờ gì thể hiện ngày, tháng sinh của chị N để cung cấp. UBND xã T xác định không còn lưu giữ được sổ hộ tịch năm 1980 nên không có tài liệu về việc khai sinh của chị N để cung cấp cho Tòa án. Xác minh tại Công an tỉnh Hải Dương xác định: Chị Nguyễn Thị N không có tài liệu trong tàng thư căn cước công dân phòng PC06 – Công an tỉnh Hải Dương.
Lời khai những người làm chứng xác định: Chị H và Chị N là hai chị em ruột. Chị N đã bỏ nhà đi từ năm 1999. Gia đình chị H đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng đến nay vẫn không có kết quả, không ai biết tin tức gì về việc chị N còn sống hay đã chết. Khi chị N bỏ đi vẫn còn nhỏ nên không có tài sản gì ở địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự đã đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 68, 69 Bộ luật dân sự, Điều 149, Điều 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự, Luật phí, lệ phí Tòa án, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Về đường lối giải quyết, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H về việc tuyên bố chị Nguyễn Thị N, nơi cư trú cuối cùng: Xóm Q, thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương mất tích; Chị H phải chịu 300.000đ tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhận định:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị N mất tích. Chị N có nơi cư trú cuối cùng tại: Xóm Q, thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Chị H có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp. Do vậy Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương thụ lý việc dân sự và mở phiên họp vắng mặt chị H là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 27, Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự. Về xác minh thông tin xuất, nhập cảnh của chị Nguyễn Thị N. Tòa án đã tiến hành xác minh nhưng không cung cấp được thông tin theo nội dung yêu cầu của Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an. Do vậy không có cơ sở để xác định.
Về căn cứ chấp nhận đơn yêu cầu của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị N bỏ nhà đi từ năm 1999 đến nay không có tin tức gì. Chị Nguyễn Thị H và gia đình đã tìm kiếm nhiều nơi, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng vẫn không có tin tức gì của chị N. Sau khi thụ lý vụ việc Tòa án tiếp tục thông báo tìm kiếm chị N trên báo vào các ngày 04, 05, 06/02/2020 và trên đài tiếng nói Việt Nam ngày 11, 12, 13/02/2020; Trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Hải Dương ngày 25/02/2020; Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Từ ngày đăng phát thông báo tìm kiếm đầu tiên đến nay đã hơn 4 tháng, chị N không trở về và cũng không có bất kỳ tin tức gì xác thực về việc chị N ở đâu, còn sống hay đã chết. Chính quyền địa phương nơi chị N cư trú cuối cùng và người thân của chị N, những người hàng xóm của chị N đều xác định chị N bỏ nhà đi từ năm 1999 đến nay không có tin tức gì về việc chị N ở đâu, còn sống hay đã chết.
Như vậy, lời trình bày của chị H phù hợp với kết quả xác minh, kết quả thông báo tìm kiếm chị N trên phương tiện thông tin đại chúng, có cơ sở xác định chị Nguyễn Thị N bỏ nhà đi từ năm 1999 đến nay, mặc dù người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm mà vẫn không có tin tức xác thực về việc chị N còn sống hay đã chết nên chị Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương tuyên bố chị Nguyễn Thị N mất tích và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương là có căn cứ cần được chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, Điều 149, Điều 367, Điều 370, Điều 371; Điều 372; Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H.
1. Tuyên bố chị Nguyễn Thị N; sinh năm 1980; ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Xóm Q, thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương mất tích.
2. Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng lệ phí việc dân sự nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng lệ phí Tòa án số: AA/2018/0000844 ngày 27/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương. Chị H đã thực hiện xong lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này hoặc từ ngày quyết định này được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Người yêu cầu; - Người có QLNV-LQ; -UBND xã T, TP Hải Dương; - VKSND TP Hải Dương; - THADS TP Hải Dương; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Nhan |