vanban.org

Quyết định 02/2020/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 16/01/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị H.

Tuyên bố bà Huỳnh Tôn Nữ Cẩm V, sinh năm 1939, nơi cư trú cuối cùng: 33/8, khu phố Cầu Hang, xã H, thành phố B, tỉnh Đ (nay là số nhà 33/8, khu phố Cầu Hang, phường H, thành phố B, tỉnh Đ) mất tích. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị H phải nộp 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự, được khấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH Đ
Số: 02/2020/QĐST-VDS
B, ngày 16 tháng 01 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH Đ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Cẩm.

Thư ký phiên họp: Ông Vũ Kim Hải – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 533/2019/TLST-VDS ngày 23 tháng 7 năm 2019 về yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp số: 1771/2019/QĐPH-ST ngày 19 tháng 12 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị H – sinh năm 1978.

Địa chỉ: 33/8, khu phố Cầu Hang, phường H, thành phố B, tỉnh Đ.

Đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Đào Bảo C, sinh năm 1983.

(Văn bản ủy quyền ngày 30/10/2018).

Địa chỉ: 10/3A, khu phố An Hòa, phường H, thành phố B, tỉnh Đ.

Đối với: bà Huyền Tôn Nữ Cẩm V, sinh năm 1939;

Địa chỉ: 33/8, khu phố Cầu Hang, xã H, thành phố B, tỉnh Đ (nay là: số nhà 33/8, khu phố Cầu Hang, phường H, thành phố B, tỉnh Đ).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Bùi Thị H và ông Phạm Văn H kết hôn với nhau từ năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã Lộ 25, huyện T, tỉnh Đ. Ngày 15 tháng 10 năm 2015 ông Phạm Văn H bị ngộ độc rượu nên đã chết, bà Huyền Tôn Nữ Cẩm V, sinh năm 1939; quê quán Thừa Thiên Huế; Địa chỉ: 33/8, khu phố Cầu Hang, xã H, thành phố B, tỉnh Đ là mẹ ruột ông Hồng do quá đau buồn nên đã bỏ nhà đi từ tháng 01 năm 2016 đến nay không rõ tung tích, mặc dù gia đình đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật rất nhiều lần nhưng vẫn không có tin tức xác thực mẹ chồng bà H còn sống hay đã chết. Nay để ổn định cuộc sống và làm thủ tục phân chia di sản thừa kế, bà làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B tiến hành tuyên bố bà Huyền Tôn Nữ Cẩm V mất tích từ tháng 01 năm 2016. Nơi cư trú cuối cùng: 33/8, khu phố Cầu Hang, xã Hóa An, thành phố Bieân Hoøa, tỉnh Đ hiện nay là số nhà 33/8, khu phố Cầu Hang, phường Hóa An, thành phố Bieân Hoøa, tỉnh Đ. Bà H có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà H tuyên bố bà V mất tích. Bà H phải chịu lệ phí việc dân sự theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ việc dân sự, kết quả thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố B nhận định:

Về tố tụng: Bà Bùi Thị H yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Huyền Tôn Nữ Cẩm V, sinh năm 1939; quê quán T; nơi cư trú cuối cùng: 33/8, khu phố Cầu Hang, xã H, thành phố B, tỉnh Đ (nay là số nhà 33/8, khu phố Cầu Hang, phường H, thành phố B, tỉnh Đ). Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự thì yêu cầu của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B.

Về nội dung yêu cầu của bà H: Xét bà V là mẹ chồng của bà Bùi Thị H có nơi cư trú cuối cùng: 33/8, khu phố Cầu Hang, xã H, thành phố B, tỉnh Đ (nay là số nhà 33/8, khu phố Cầu Hang, phường H, thành phố B, tỉnh Đ) đã bỏ địa phương đi từ tháng 01 năm 2016 cho đến nay có xác nhận của công an phường H. Bà H đã thực hiện việc đăng báo tìm kiếm bà V nhưng không có tin tức gì. Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ việc, đã ban hành quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 800/2019/QĐ -TA ngày 09/8/2019 thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà V. Ngày 29/8/2019, bà H đã ký hợp đồng với Cơ quan thường trú Đài tiếng nói Việt Nam tại thành phố H và Báo Nhân Dân để thông báo tìm kiếm bà V trong 03 ngày liên tiếp và 03 số báo liên tiếp và thông báo tìm kiếm được đăng trên cổng thông tin điện tử tỉnh Đ và trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Đ ngày 26/8/2019 nhưng cho đến nay đã hết thời hạn thông báo theo quy định vẫn không có tin tức gì của bà V. Như vậy bà V đã biệt tích hơn hai năm vẫn không có tin tức xác thực còn sống hay đã chết nên việc bà H yêu cầu tuyên bố bà V mất tích là có căn cứ chấp nhận.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát thành phố B tham gia phiên họp phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 387, Điều 388, Điều 389, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc H;

Chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị H.

Tuyên bố bà Huỳnh Tôn Nữ Cẩm V, sinh năm 1939, nơi cư trú cuối cùng: 33/8, khu phố Cầu Hang, xã H, thành phố B, tỉnh Đ (nay là số nhà 33/8, khu phố Cầu Hang, phường H, thành phố B, tỉnh Đ) mất tích.

- Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Bùi Thị H phải nộp 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng lệ phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng số 0008702 ngày 03/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ