- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "bà Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố chị Phạm Thùy Nh mất tích"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 388; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1, 3 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12…
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Số: 02/2020/QĐST-TBMT | Móng Cái, ngày 15 tháng 5 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Dương Thị Thu Hà
Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Thanh Huệ
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên họp: Bà Tạ Thị Huyền - Chức vụ: Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2020/TLST-VDS, ngày 02 tháng 01 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2020/QĐST-VDS, ngày 08 tháng 5 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1973; Nơi thường trú: Thôn X, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có lý do.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1973 và ông Phạm Văn Th, sinh năm: 1970 có 02 người con là Phạm Thùy Nh, sinh năm 1992 và Phạm Văn T, sinh năm: 1996 đều đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn X, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Năm 2008, ông Th chết, gia đình bà T gặp khó khăn về kinh tế nên chị Phạm Thùy Nh đã nghỉ học đi làm phụ giúp mẹ để em trai đi học. Năm 2009, chị Nh theo người họ hàng đi làm ăn xa đến hết năm 2009 không thấy trở về. Sau đó, bà T đã đi nhiều nơi, hỏi nhiều người quen biết với chị Nh và gia đình nhưng đều không có thông tin gì về con gái. Chị Nh biệt tích từ đó đến nay mà không có thông tin, tin tức gì về việc chị còn sống hoặc đã chết.
Nay, bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Phạm Thùy Nh, sinh năm: 1992, nơi thường trú - nơi cư trú cuối cùng: thôn X, xã Q, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh mất tích.
Tại phiên họp: Bà Nguyễn Thị T giữ nguyên yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Phạm Thùy Nh mất tích.
Các tài liệu chứng cứ người yêu cầu bà Nguyễn Thị T đã nộp kèm theo đơn yêu cầu: Giấy khai sinh (01 bản sao); Giấy chứng tử (01 bản sao); Căn cước công dân (01 bản sao); Sổ hộ khẩu (01 bản sao); Đơn xin xác nhận (02 bản chính); Hóa đơn giá trị gia tăng số 0001132 (01 bản chính); Hợp đồng kinh tế số 507 của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh (01 bản chính); Báo Quảng Ninh số 10506; Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án (01 bản chính);
Các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản xác minh tại Công an xã Q; Báo Nhân dân 03 số liên tiếp (23462 - 22882) kèm Hóa đơn giá trị gia tăng số 0004378 của Báo Nhân dân; Hóa đơn giá trị gia tăng số 0000343 của Đài tiếng nói Việt Nam; Hợp đồng kinh tế số 09 và Hóa đơn giá trị gia tăng số 0001240 của Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh; Công văn đề nghị Phòng thông tin truyền thông Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao đăng nội dung Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Phạm Thùy Nh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết việc dân sự và việc giải quyết việc dân sự:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu:
Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái đã thụ lý việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” là có cơ sở pháp luật và đúng thẩm quyền; Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật đối với việc dân sự và tư cách đương sự tham gia tố tụng. Việc ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích của Thẩm phán đảm bảo đúng nội dung, thời hạn theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Việc đăng tải thông báo cũng đảm bảo về cách thức đăng tải theo quy định tại Điều 385 BLTTDS; ra Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, tuân thủ đúng thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu quy định tại khoản 4 Điều 388 BLTTDS; Thời hạn chuyển hồ sơ vụ việc sang Viện kiểm sát: đảm bảo thời hạn 07 ngày để Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều 366 BLTTDS.
* Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp theo đúng các quy định của BLTTDS về phiên họp giải quyết việc dân sự.
* Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán ra quyết định giải quyết việc dân sự: Đối với người yêu cầu: bà Nguyễn Thị T được đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của người yêu cầu quy định tại Điều 70 BLTTDS.
* Về đường lối giải quyết việc dân sự:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ việc dân sự cũng như tại phiên họp xác định: Chị Phạm Thùy Nh vắng mặt tại gia đình và địa phương từ cuối năm 2009. Do không xác định được chính xác tháng cuối cùng có tin tức của chị Nh nên theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, thời hạn biệt tích của chị Nh được xác định bắt đầu từ ngày 01/01/2010. Tính đến tháng 5/2020, chị Nh đã biệt tích trên 02 năm; sau khi đăng tin tìm kiếm theo quy định pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Phạm Thùy Nh còn sống hay đã chết.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái áp dụng Điều 369, Điều 370, Điều 388 BLTTDS và khoản 1 Điều 68 BLDS năm 2015, chấp nhận yêu cầu của đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết:
Việc dân sự yêu cầu tuyên bố một người mất tích thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 27 BLTTDS. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là chị Phạm Thùy Nh có nơi cư trú cuối cùng tại thôn X, xã Q, thành phố Móng Cái nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39 BLTTDS.
[2] Về người có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Phạm Thùy Nh mất tích: Bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ của chị Phạm Thùy Nh theo Giấy khai sinh do UBND xã Q, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 10/11/1995. Như vậy, đối chiếu quy định tại khoản 1 Điều 387 BLTTDS bà Nguyễn Thị T là người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với chị Phạm Thùy Nh khi chị Nh đã biệt tích 02 năm liền trở lên tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về chị Nh.
[3] Nội dung yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Do đi làm ăn xa nên chị Phạm Thùy Nh đã đi khỏi địa phương từ cuối năm 2009 là thời điểm biết được tin tức cuối cùng về chị Phạm Thùy Nh tại thôn X, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, từ đó cho đến nay bản thân bà T đã nhiều lần tìm kiếm và làm thủ tục đăng tin tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định nhưng không có kết quả, đến nay chị Nh đã biệt tích trên 02 năm liền nên bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Phạm Thùy Nh mất tích.
Công an xã Q, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh có nội dung xác nhận: chị Phạm Thùy Nh, sinh năm: 1992; hộ khẩu thường trú: thôn X, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh vắng mặt tại địa phương từ năm 2009 đến nay. Địa phương, thôn xóm đều không có tin tức xác thực về việc chị Nh còn sống hay đã chết.
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc xác định cũng như tại phiên họp: Không xác định được chính xác ngày cuối cùng có tin tức của chị Nh nên theo quy định tại khoản 1 Điều 68 BLDS năm 2015, thời hạn biệt tích của chị Nh được xác định bắt đầu từ ngày 01/01/2010.
Theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị T, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Phạm Thùy Nh theo quy định của pháp luật: Đăng trên báo Nhân dân trong 03 số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp. Hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên là ngày 07 tháng 01 năm 2020 nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc chị Phạm Thùy Nh còn sống hay đã chết.
Như vậy, việc bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Phạm Thùy Nh mất tích là có căn cứ, nên cần chấp nhận.
Về việc quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
[4] Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: đương sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 388; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1, 3 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc: “Tuyên bố một người mất tích”.
Tuyên bố chị Phạm Thùy Nh, sinh năm: 1992; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú - nơi cư trú cuối cùng: Thôn X, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ bà Nguyễn Thị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh theo biên lai số: 0001246, ngày 02/01/2020. Bà T đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
3. Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày người yêu cầu nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thành phố Móng Cái; - Người yêu cầu; - Chi cục THADS thành phố Móng Cái; - Lưu hồ sơ + VP; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Dương Thị Thu Hà |