- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thuê, cho thuê, thuê mua — án kinh doanh thương mại — "KDTM-ST Trần Thị T - Ban quản lý chợ B"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 10/2016/TLST-KDTM ngày 02 tháng 6 năm 2016 về việc “Tranh chấp Hợp đồng thuê diện tích kinh doanh”, giữa:
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2020/QĐST-KDTM | K, ngày 11 tháng 6 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Đặng Trình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Lẫy
Bà Hoàng Thị Chính
Căn cứ vào các điều 217, 218, 219, 235, Điều 244 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Xét thấy: Ngày 20 tháng 4 năm 2020, bà Trần Thị T là nguyên đơn nộp cho Tòa án nhân dân quận K Đơn đề nghị thay đổi yêu cầu khởi kiện ghi ngày 18/4/2020 với các nội dung: Rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện trước đây bao gồm: Buộc Ban Quản lý chợ B tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê diện tích kinh doanh theo Hợp đồng số 87/HĐ-KT ngày 01/4/2004 mà bà T đã ký kết với Ban quản lý chợ B; mở cửa quầy hàng của bà trở lại và khôi phục lại thời gian thuê quầy của bà đã bị khóa cửa từ ngày 28/7/2009 đến hết thời hạn hợp đồng là 93 tháng và buộc Ban Quản lý chợ B xin lỗi bà công khai tại chợ B về việc khóa cửa quầy bán hàng của bà.
Đồng thời bà Trần Thị T bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc Ban Quản lý chợ B bồi thường cho bà số tiền bao gồm: Bồi thường do vi phạm Hợp đồng số 87/HĐ-KT ngày 01/4/2004 là 318.240.000 đồng; tiền lãi của số tiền 318.240.000 đồng x 1%/tháng x 127 tháng (từ tháng 7/2009 đến tháng 4/2020) = 410.529.600 đồng; tiền thu nhập thực tế bị mất 5.000.000 đồng/tháng x 92 tháng (từ tháng 7/2009 đến tháng 4/2017) = 460.000.000 đồng; tiền thiệt hại do tổn thất về tinh thần là 50.000.000 đồng; cộng bằng: 1.238.769.600 đồng.
Tại phiên tòa, bà Trần Thị T giữ nguyên ý kiến như trong Đơn đề nghị thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 18/4/2020 và bổ sung thêm yêu cầu khởi kiện, buộc Ban quản lý chợ B bồi thường giá trị tài sản bà đã đầu tư vào 01 gian nhà bán hàng tầng 2 của chợ B, theo Kết luận định giá tài sản, số tiền là 16.580.000 đồng. Tổng cộng bà T yêu cầu Ban Quản lý chợ B bồi thường số tiền là: 1.255.349.600 đồng. Mặt khác, Bà Trần Thị T vẫn giữ nguyên ý kiến về việc rút các yêu cầu khởi kiện và yêu cầu bổ sung mà bà đã trình bày trong đơn ghi ngày 18/4/2020 và tại phiên tòa.
Về việc bổ sung yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T:
Ngày 17/3/2020 Tòa án nhân dân quận K đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/QĐXXST-KDTM, Quyết định này được tống đạt cho bà Trần Thị T ngày 20/3/2020. Sau khi nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, bà Trần Thị T mới bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Ban Quản lý chợ B bồi thường thiệt hại số tiền là 1.238.769.600 đồng. Tại phiên tòa bà bổ sung thêm yêu cầu Ban Quản lý chợ B bồi thường cho bà giá trị tài sản bà đã đầu tư vào 01 gian nhà bán hàng tầng 2 của chợ B, theo Kết luận định giá tài sản, số tiền là 16.580.000 đồng. Tổng cộng bà Trần Thị T yêu cầu Ban Quản lý chợ B bồi thường số tiền là: 1.255.349.600 đồng. Yêu cầu này của bà Trần Thị T là yêu cầu mới, vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu; mặt khác bà Trần Thị T đã tự nguyện rút toàn bộ các yêu cầu khởi kiện ban đầu theo đơn khởi kiện ghi ngày 11/5/2016. Theo quy định tại Điều 243, khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của đương sự tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 243, khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận thụ lý, giải quyết yêu cầu của bà Trần Thị T về việc yêu cầu Ban Quản lý chợ B bồi thường thiệt hại cho bà tổng số tiền là 1.255.349.600 đồng trong vụ án này. Bà Trần Thị T có quyền khởi kiện Ban Quản lý chợ B bằng vụ kiện dân sự khác theo quy định của pháp luật.
Về việc rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị T:
Theo quy định tại Điều 5, khoản 4 Điều 70, khoản 2 Điều 71 và điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì nguyên đơn là bà Trần Thị T, có quyền rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Tại phiên tòa xác định việc bà T rút các yêu cầu khởi kiện là: Buộc Ban Quản lý chợ B tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê diện tích kinh doanh theo Hợp đồng số 87/HĐ-KT ngày 01/4/2004 mà bà T đã ký kết với Ban quản lý chợ B; mở cửa quầy hàng của bà trở lại và khôi phục lại thời gian thuê quầy của bà đã bị khóa cửa từ ngày 28/7/2009 đến hết thời hạn hợp đồng là 93 tháng và buộc Ban Quản lý chợ B xin lỗi công khai tại chợ B về việc khóa cửa quầy bán hàng của bà là hoàn toàn tự nguyện. Mặt khác, trong vụ án này bị đơn là Ban Quản lý chợ B không có yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Anh Hòa và đại diện hợp pháp của ông Đỗ Sơn Hải là anh Đỗ Tuấn Hiệp không có yêu cầu độc lập. Do đó, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút yêu cầu của bà Trần Thị T, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 10/2016/ TLST-KDTM ngày 02/6/2016 về việc tranh chấp hợp đồng thuê diện tích kinh doanh.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 10/2016/TLST-KDTM ngày 02 tháng 6 năm 2016 về việc “Tranh chấp Hợp đồng thuê diện tích kinh doanh”, giữa:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, địa chỉ: Số 197 đường Đ, phường C, Quận N, thành phố Hải Phòng,
Bị đơn: Ban quản lý chợ B; địa chỉ: Tổ 15 phường B, quận K, thành phố Hải Phòng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Người đại diện hợp pháp của ông Đỗ Sơn H: Anh Đỗ Tuấn H, địa chỉ: số 42/30 Đường N, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng,
- Ông Trần Anh H, địa chỉ: Số 197 đường Đ, phường C, Quận N, thành phố Hải Phòng,
2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:
Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự này.
Về án phí: Trả lại bà Trần Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003035 ngày 31/5/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng.
3. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát nhân dân quận K thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận K; - VKSND TP.Hải Phòng - TAND TP.Hải Phòng; - Chi cục THADS K; - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Đặng Trình |