vanban.org

Quyết định 02/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Ngô Thị Đ.

Tuyên bố: Anh Hồng Minh Đ – sinh ngày 22/7/1985, nơi ĐKHKTT: Thôn , xã N, huyện T, tỉnh Q; nơi cư trú cuối cùng: Thôn , xã N, huyện T, tỉnh Q mất tích. Về chi phí tố tụng: Chị Ngô Thị Đ phải chịu 4.500.000đồng (Bốn triệu, năm trăm ngàn đồng chẵn) chi phí đăng báo, phát sóng thông báo tìm kiếm người … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Ngô Thị Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN TƯ NGHĨA
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số : 02/2020/QĐST- DSTư Nghĩa, ngày 19 tháng 5 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI.

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Bùi Thị Thu Hằng

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thu Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa tham gia phiên họp: Bà Hồ Thị Tiểu Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa,

tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 05/2019/TLST-DS ngày 24/12/2019 về việc yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 257/2020/QĐST- VDS ngày 11 tháng 5 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Ngô Thị Đ - sinh năm 1990;

địa chỉ: Thôn , xã N, huyện T, tỉnh Q.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 18/12/2019 và tại phiên họp, chị Ngô Thị Đ là người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày:

Chị Đ và anh Hồng Minh Đ có tìm hiểu, yêu thương nhau nhưng không được gia đình hai bên chấp nhận, chị Đ và anh Đ tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Q vào ngày 29/01/2013 và thuê nhà ở thôn , xã N, huyện T, tỉnh Q để chung sống.

Trong thời gian chung sống, chị Đ và anh Đ có 01 con chung là Hồng Ngô D, sinh ngày: 29/3/2012.

Tháng 12/2015, anh Đ bảo chị Đ ở nhà chăm con, anh Đ đi TP. Hồ Chí Minh để tìm việc làm nhằm có tiền lo cho gia đình. Thời gian đầu, anh Đ có liên lạc cho chị Đ qua điện thoại nhưng không nói rõ anh Đ đang sinh sống ở đâu. Đến tháng 3 năm 2016, chị Đ mất liên lạc với anh Đ. Chị Đ có tìm gặp bạn bè, người thân của anh Đ để tìm hỏi thông tin về anh Đ, chị Đ cũng đã thông báo tìm kiếm anh Đ trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng từ đó đến nay không có tin tức gì của anh Đ.

Để ổn định cuộc sống, nay chị Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với anh Hồng Minh Đ.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa tại phiên họp:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Đ về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với anh Hồng Minh Đ, sinh năm 1985; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn , xã N, huyện T, tỉnh Q. Buộc chị Đ phải chịu chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị tuyên bố mất tích và chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi nhận định:

Về tố tụng:

Chị Ngô Thị Đ và anh Hồng Minh Đ tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn vào ngày 29/01/2013 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Q nên quan hệ hôn nhân của chị Đ và anh Đ là hợp pháp. Từ tháng 12 năm 2015 anh Hồng Minh Đ bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng: Thôn , xã N, huyện T, tỉnh Q đến nay không có tin tức gì. Do đó, chị Ngô Thị Đ có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với anh Hồng Minh Đ theo quy định tại Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa thụ lý giải quyết việc dân sự theo đơn yêu cầu của chị Đ “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với anh Hồng Minh Đ ” là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Theo trình bày của chị Ngô Thị Đ trong đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, cũng như tại phiên họp sơ thẩm thì anh Hồng Minh Đ đã bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú cuối cùng: Thôn , xã N, huyện T, tỉnh Q từ tháng 12 năm 2015 đến nay. Mặc dù chị Đ đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì về việc anh Đ còn sống hay đã chết. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Đ, ngày ngày 31 tháng 12 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 36/2019/QĐ-TA đối với anh Hồng Minh Đ. Thông báo nêu trên đã được đăng trên báo Nhân dân trong 03 số liên tiếp từ số 23460 đến số 23462 trong các ngày 09, 10 và 11 tháng 01 năm 2020; đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án; Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam 03 lần trong 03 ngày liên tiếp kể từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 01 năm 2020.

Đến nay, đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Hồng Minh Đ còn sống hay đã chết. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Ngô Thị Đ về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với anh Hồng Minh Đ, sinh năm 1985, nơi cư trú cuối cùng: Thôn , xã N, huyện T, tỉnh Q.

Về áp dụng biện pháp quản lý tài sản của anh Hồng Minh Đ: chị Ngô Thị Đ không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của anh Hồng Minh Đ nên Tòa án không giải quyết.

Về chi phí tố tụng: Chị Ngô Thị Đ phải chịu 4.500.000đồng(Bốn triệu, năm trăm ngàn đồng chẵn) chi phí đăng báo, phát sóng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Chị Đ đã nộp và đã chi phí xong.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Ngô Thị Đ phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, chị Đ được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa tại phiên họp là phù hợp, đúng pháp luật nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các điều 149, 370, 371, 372, 387 và 389 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Ngô Thị Đ.

- Tuyên bố: Anh Hồng Minh Đ – sinh ngày 22/7/1985, nơi ĐKHKTT: Thôn , xã N, huyện T, tỉnh Q; nơi cư trú cuối cùng: Thôn , xã N, huyện T, tỉnh Q mất tích.

- Về chi phí tố tụng: Chị Ngô Thị Đ phải chịu 4.500.000đồng (Bốn triệu, năm trăm ngàn đồng chẵn) chi phí đăng báo, phát sóng thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Chị Đ đã nộp và đã chi phí xong.

- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Ngô Thị Đ phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí chị Đ đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0002279 ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa.

- Về Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Ngô Thị Đ có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định tại khoản 2 Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Cỡ chữ