- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Triệu Thị T - Vũ Hữu H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu “tuyên bố một người mất tích” của bà Triệu Thị T đối ông Vũ Hữu H.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2020/QĐST-DS | Dầu Tiếng, ngày 28 tháng 02 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phan Xuân Nam
Thư ký phiên họp: Bà Đinh Thị Khuyến - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Lê Đình Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2019/TLST-VDS ngày 24 tháng 7 năm 2019 về việc “yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 11/2020/QĐST-DS ngày 18 tháng 02 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Triệu Thị T, sinh 1957; hộ khẩu thường trú: Số A, tổ B, ấp C, xã D, huyện F, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Theo đơn yêu cầu và quá trình tham gia tố tụng, người yêu cầu giải quyết việc dân sự (bà Triệu Thị T) trình bày:
Bà Triệu Thị T, sinh năm 1957 và ông Vũ Hữu H, sinh năm 1958 quen biết nhau ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (khi đó bà T làm nghề buôn bán cá ở chợ B) và hai bên tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1986 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau đó, hai bên về cùng chung sống ở địa chỉ số A, tổ B, ấp C, xã D, huyện F, tỉnh Bình Dương. Trong quá trình chung sống có 02 người con chung gồm có:
1. Bà Vũ Thị Ngọc D, sinh năm 1987 (đã lập gia đình); hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã D, huyện F, tỉnh Bình Dương.
2. Ông Vũ Hữu M (đã lập gia đình), sinh năm 1989; cùng chung hộ khẩu thường trú với bà Triệu Thị T tại số A, tổ B, ấp C, xã D, huyện F, tỉnh Bình Dương.
Theo lời trình bày của ông Vũ Hữu H thì quê quán gia đình của ông H ở tỉnh Sóc Trăng (không rõ địa chỉ cụ thể) vì trong quá trình hai bên chung sống với nhau thì hai bên vợ chồng không có về quê ông H để báo cáo cho họ hàng ông H biết về mối quan hệ này, bên cạnh đó ông H cho rằng cha mẹ mất sớm nên phải tự lập cuộc sống cho đến khi gặp bà T. Quá trình sinh sống ở địa phương xã D từ năm 1986 nhưng ông H không có đăng ký tạm trú hay đăng ký hộ khẩu thường trú gì. Đến năm 1999, ông H tự ý bỏ nhà ra đi mà không rõ nguyên nhân gì và cho đến nay gia đình bà T đã tìm kiếm nhưng hoàn toàn không có bất cứ thông tin, tin tức liên lạc gì. Bà T đã báo Công an xã D về việc ông H đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 1999 cho đến nay.
Năm 2019, bà T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng tuyên bố ông Vũ Hữu H mất tích với lý do xác định quyền sở hữu tài sản của các thành viên trong gia đình theo quy định của pháp luật. Bà T khẳng định nguồn gốc tài sản là của cá nhân bà T và phía ông H không có công sức đóng góp gì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Lời trình bày và các chứng cứ do bà Triệu Thị T cung cấp phù hợp với quy định của pháp luật, có đủ căn cứ để xác định ông Vũ Hữu H mất tích. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng nhận định:
Bà Triệu Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Vũ Hữu H, sinh năm 1958; nơi cư trú cuối cùng: Số A, tổ B, ấp C, xã D, huyện F, tỉnh Bình Dương mất tích là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Triệu Thị T và ông Vũ Hữu H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1986. Ông H đã tự ý bỏ địa phương đi từ năm 1999 theo đơn xin xác nhận của bà Triệu Thị T đề ngày 10/7/2019 có xác nhận của Công an xã D, huyện F, tỉnh Bình Dương. Bà T đã tìm mọi cách tìm kiếm nhưng vẫn không thể liên lạc với ông H. Vì vậy, bà T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông H mất tích theo quy định. Mục đích của việc yêu cầu là để xác định quyền sở hữu tài sản của các thành viên trong gia đình theo quy định của pháp luật.
Theo đơn yêu cầu của bà Triệu Thị T, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 09/2019/QĐ-TA ngày 07/8/2019. Bà T đã tiến hành đăng quyết định này trên Báo Công Lý, Đài tiếng nói Việt Nam trong 03 kỳ liên tiếp; lần đăng đầu tiên là ngày 13/10/2019. Tòa án cũng đã đăng nội dung quyết định này trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao theo quy định. Đến nay đã quá thời gian 04 tháng kể từ ngày đăng đầu tiên (13/10/2019) vẫn không có tin tức gì của ông Vũ Hữu H. Có căn cứ xác định ông Vũ Hữu H đã biệt tích từ năm 1999 cho đến nay, không có tin tức xác thực về việc ông Vũ Hữu H ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết.
Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Triệu Thị T tuyên bố ông Vũ Hữu H mất tích theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương là phù hợp.
Về chi phí đăng tin: 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) bà Triệu Thị T đã thực hiện và thanh toán xong cho các cơ quan đăng tin nên không xem xét.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Triệu Thị T là người cao tuổi theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bà T thuộc trường hợp được miễn án phí.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 366, Điều 370; Điều 371; Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu “tuyên bố một người mất tích” của bà Triệu Thị T đối ông Vũ Hữu H.
Tuyên bố ông Vũ Hữu H, sinh năm 1958, nơi cư trú cuối cùng: Số A, tổ B, ấp C, xã D, huyện F, tỉnh Bình Dương mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Triệu Thị T không phải nộp.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Bà Triệu Thị T có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - CC THA DS huyện Dầu Tiếng; - UBND xã Long Hòa; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phan Xuân Nam |