vanban.org

Quyết định 02/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang Tuyên án 13/10/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu anh Thào Chìu C yêu cầu tuyên bố Chị Lầu Thị S, sinh năm 1976; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Thào Chìu C chịu 300.000đ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ, anh Thào Chìu C đã nộp theo biên lai thu số 07133 ngày 27/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Hà Giang. Quyền kháng cáo, khán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định yêu cầu tuyên bố một người mất tích chị Lầu Thị X"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu anh Thào Chìu C yêu cầu tuyên bố Chị Lầu Thị S, sinh năm 1976; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC MÊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HÀ GIANG
Số: 02/2020/QĐST-DS
Bắc Mê, ngày 13 tháng 10 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Dương Văn Công.

Thư ký phiên họp: Ông Trần Xuân Đạt - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: Bà Bàn Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyên B, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2020/TLST-VDS ngày 27 tháng 5 năm 2020 về việc Yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2020/QĐST-VDS ngày 06 tháng 10 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Thào Chìu C; Sinh năm 1979.

Nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang (Có mặt).

Người có người lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lầu Thị S; Sinh năm 1976.

Nơi cư trú trước khi biệt tích: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 18/5/2020, các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp anh Thào Chìu C trình bày:

Anh Của và Chị Lầu Thị S xây dựng gia đình với nhau không được tìm hiểu nhau do bố mẹ hai hỏi cho nên anh và chị đồng thuận nhất trí lấy nhau, không bên nào ép buộc và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương năm 1992 nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau đó vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh Của tại Thôn C, xã P, huyện B cho đến ngày 28/11/2006 vợ chồng đến UBND xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang làm thủ tục đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống thương yêu giúp đỡ nhau không có mâu thuẫn gì. Đến ngày 13/4/2018 anh Của đi thanh minh trên huyện Đ, tỉnh Hà Giang, khi về đến nhà thấy các con nói mẹ đi lấy măng bên bà ngoại là Ly Thị M ở thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang, nhưng không thấy về anh Của đi hỏi bà ngoại nói là không thấy đến nhà, sau đó tôi đi tìm vợ qua những người quen biết ở huyện Đ, huyện Y, huyện Q thuộc tỉnh Hà Giang không có kết quả về vợ Lầu Thị S bỏ nhà đi đâu không ai biết, từ đó không có thông tin liên lạc gì đến nay hơn 02 năm, không thấy vợ điện thoại hỏi thăm các con. Tôi thấy vợ bỏ lại các con nhỏ mà không có thông tin về gia đình.

Quá trình vợ, chồng chung sống có 06 con chung: Thào Thị M, sinh năm 1995; Thào Thị S, sinh năm 1997; Thào Thị S, sinh năm 1999; Thào Thị D, sinh năm 2001; Thào Thị G, sinh năm 2003; Thào Mí S, sinh năm 2005; Về tài sản chung: Sống cùng bố mẹ, không mua sắm tài sản gì.

Tại phiên họp anh Thào Chìu C yêu cầu tuyên bố Chị Lầu Thị S mất tích; về các con anh tự nguyện nuôi không yêu cầu giải quyết; về yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý tài sản không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên họp kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc Tòa án thụ lý, giải quyết đúng theo trình tự, thủ tục và thẩm quyền; tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, người tham gia tố tụng tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự; Khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35; Điều 39, 149, 361, 367, 369, 370, 387, 388 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Thào Chìu C, yêu cầu tuyên bố Chị Lầu Thị S, sinh năm 1976 mất tích.

- Về lệ phí: Anh Thào Chìu C chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện B nhận định:

. Về tố tụng: Anh Thào Chìu C có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê tuyên bố Chị Lầu Thị S mất tích, đây là việc dân sự không có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự, Chị Lầu Thị S có nơi cư trú trước khi biệt tích tại huyện B. Do đó, theo quy định tại các Điều 35, 39 và Điều 361 Bộ luật tố tụng dân sự thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Giang.

Về nội dung: Anh Thào Chìu C chung sống với Chị Lầu Thị S từ năm 1992 không có đăng ký kết hôn, nhưng đến năm 2006 vợ chồng đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang. Thời gian chung sống vợ chồng có 06 con chung gồm: Thào Thị M, sinh năm 1995; Thào Thị S, sinh năm 1997; Thào Thị S, sinh năm 1999; Thào Thị D, sinh năm 2001; Thào Thị G, sinh năm 2003; Thào Mí S, sinh năm 2005. Về tài sản chung sống cùng bố mẹ, không mua sắm tài sản gì. Nguyên nhân không biết lý do gì ngày 13/4/2018 Chị Lầu Thị S tự bỏ nhà đi hơn 02 năm, đi đâu, làm việc gì không có thông tin liên lạc với gia đình và người thân, mặc dù gia đình đã tổ chức tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có kết quả và hiện tại không biết chị S ở đâu còn sống, hay đã chết. Như vậy, có đủ cơ sở chấp nhận đơn yêu cầu của anh Thào Chìu C yêu cầu tuyên bố Chị Lầu Thị S mất tích theo quy định Điều 68 Bộ luật dân sự.

. Ngày 27/5/2020 Tòa án nhân dân huyện B thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án đã ban hành quyết định số 01/2020/QĐ-TA về việc thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích Chị Lầu Thị S. Thông báo này đã đăng trên báo Công lý 03 số liên tiếp (số 46 ngày 05/6/2020); (số 47 ngày 10/6/2020); (số 48 ngày 12/6/2020) và phát trên đài tiếng nói Việt Nam VOV2, 17h30 trong 03 ngày liên tiếp ngày 09, 10 và ngày 11/6/2020. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên, nhưng việc tìm kiếm Chị Lầu Thị S vẫn không có kết quả. Như vậy, có đủ cơ sở tuyên bố Chị Lầu Thị S mất tích theo quy định Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Biên bản xác minh ngày 30/9/2020 tại gia đình mẹ đẻ Chị Lầu Thị S; Biên bản xác minh ngày 30/9/2020 tại Công an xã P, huyện B nơi cư trú cuối cùng Chị Lầu Thị S trước khi biệt tích xác nhận, Chị Lầu Thị S vắng mặt tại địa phương từ tháng 4/2018 đến nay, không có tin tức ở đâu, không biết còn sống hay đã chết.

Anh Thào Chìu C không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị yêu cầu tuyên bố một người mất tích, nên Tòa án không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Về lệ phí và chi phí tố tụng khác: Anh Thào Chìu C chịu tiền lệ phí và chi phí thông báo trên báo công lý và đài tiếng nói Việt Nam VOV2 theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35; Điều 39, 149, 361, 367, 369, 370, 372, 387, 388 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu anh Thào Chìu C yêu cầu tuyên bố Chị Lầu Thị S, sinh năm 1976; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Hà Giang mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Thào Chìu C chịu 300.000đ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ, anh Thào Chìu C đã nộp theo biên lai thu số 07133 ngày 27/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Hà Giang.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Thào Chìu C, Chị Lầu Thị S có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Trường hợp vắng mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn được tính ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ