vanban.org

Quyết định 02/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 29/06/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu “ Tuyên bố một người mất tích” của chị Nông Thị L.

Tuyên bố: Anh Vi Quang V, sinh năm 1981; Nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn B 1, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là: Thôn B 1, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) mất tích. Về lệ phí việc dân sự: Chị Nông Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Nông Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu “ Tuyên bố một người mất tích” của chị Nông Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2020/QĐST-DSBa Bể, ngày 29 tháng 6 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phạm Thế Hùng

Thư ký phiên họp: Bà Bào Kim Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 6 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Ba Bể mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2020/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2019 về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2020/QĐST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nông Thị L, sinh năm 1987. Nơi cư trú: T 5, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và quá trình làm việc tại Tòa án, người yêu cầu chị Nông Thị L trình bày: Chị kết hôn với anh Vi Quang V, sinh năm 1981 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào ngày 18/01/2011. Sau khi kết hôn, sinh sống tại thôn B 1, xã C huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Ngày 18/01/2016 anh V bỏ nhà đi đến nay không có tin tức gì. Khi đi không nói gì với vợ con hay gia đình và chính quyền địa phương biết. Chị và gia đình đã tổ chức tìm kiếm nhiều lần, nhiều nơi nhưng không có kết quả. Ngày 07/3/2017, Tòa án nhân dân huyện B đã ra Quyết định thông báo tìm kiến người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh Vi Quang V nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của anh V, không biết anh V còn sống hay đã chết. Việc anh V bỏ nhà đi thời gian lâu như vậy đã làm xáo trộn cuộc sống gia đình. Nay chị L có nguyện vọng muốn ly hôn với anh V để ổn định cuộc sống. Do vậy, chị L yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vi Quang V mất tích để làm căn cứ giải quyết việc ly hôn giữa vợ chồng chị. Chị L và anh V có 01 con chung tên là Vi Khánh L, sinh ngày 28/6/2012, con chung hiện đang sống cùng chị. Chị L và anh V không có tài sản chung, không có nợ chung. Khi đi, anh V cũng không để lại tài sản gì.

Chính quyền địa phương xã C ( nay là xã Th) cung cấp: Anh Vi Quang V có hộ khẩu thường trú tại thôn B 1, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là: B 1, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn). Năm 2011, anh Vi Quang V đăng ký kết hôn với chị Nông Thị L trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn và có 01 con chung tên là Vi Khánh L, sinh ngày 28/06/2012. Đến ngày 18/01/2016, anh V rời khỏi nơi cư trú cuối cùng đến nay không có tin tức gì. Khi đi không thông báo cho chính quyền địa phương, không làm thủ tục khai báo tạm vắng. Do vậy Ủy ban nhân dân xã không biết hiện nay anh V đang ở đâu, không biết còn sống hay đã chết.

Tại phiên họp chị Nông Thị L giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Tòa án tuyên bố anh Vi Quang V mất tích. Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát huyện B phát biểu quan điểm: Tòa án nhân dân huyện B thụ lý, giải quyết đơn của chị Nông Thị L yêu cầu tuyên bố anh Vi Quang V mất tích là đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 27; Khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 387; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

- Đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nông Thị L, tuyên bố anh Vi Quang V, sinh năm 1981, nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn B 1, xã C (nay là xã Th), huyện B, tỉnh Bắc Kạn mất tích.

- Chị Nông Thị L phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện B nhận định:

1.Về thủ tục tố tụng: Anh Vi Quang V là người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, có nơi cư trú cuối cùng tại thôn B 1, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là: B 1, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn), nên yêu cầu của chị Nông Thị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B theo quy định tại Điều 27, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về nội dung yêu cầu: Ngày 18/01/2011, anh Vi Quang V kết hôn và chung sống với chị Nông Thị L tại thôn B 1, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là: Bản P 1, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn). Đến ngày 18/01/2016, anh Vi Quang V bỏ nhà đi không thông báo cho gia đình và chính quyền địa phương biết. Kể từ khi anh Vi Quang V bỏ đi, chị Nông Thị L và gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiến nhưng vẫn không có tin tức gì về anh V. Hiện nay, chị Nông Thị L, gia đình và chính quyền địa phương xã Th không có tin tức gì về anh V, không xác định được anh V còn sống hay đã chết. Chị Nông Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Vi Quang V mất tích, ngoài ra không có yêu cầu nào khác.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án nhân dân huyện B đã xác minh tại chính quyền địa phương nơi cư trú cuối cùng của anh Vi Quang V thể hiện: Anh Vi Quang V đã bỏ đi khỏi địa phương từ ngày 18/01/2016 đến nay. Khi đi không thông báo với chính quyền địa phương, không làm thủ tục khai báo tạm vắng tại địa phương. Từ khi anh V bỏ đi đến nay, chính quyền địa phương không có tin tức gì của anh V, không biết anh V còn sống hay đã chết.

Theo xác minh tại gia đình anh Vi Quang V, bà Dương Thị Nh là mẹ đẻ của anh V, trú tại thôn B 1, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là: B 1, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) cung cấp thông tin: Bà Nh xác nhận anh V đã bỏ nhà đi từ ngày 18/01/2016 đến nay không có tin tức gì. Khi đi không thông báo cho gia đình biết. Gia đình đã tìm kiếm nhiều lần, nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về anh V. Nay chị Nông Thị L có yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện B tuyên bố anh Vi Quang V mất tích, bà Dương Thị Nh nhất trí và không có ý kiến gì.

Tòa án nhân dân huyện B đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 01/2020/QĐ-TA ngày 13/01/2020 đối với anh Vi Quang V, thời hạn thông báo là 04 tháng. Thông báo được đăng, phát trên Báo công lý, Đài tiếng nói Việt Nam và Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn. Đến nay đã quá 04 tháng mà không có tin tức gì của anh V. Như vậy, tính đến nay, anh Vi Quang V đã biệt tích hơn 04 năm, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Vi Quang V hiện đang ở đâu, còn sống hay đã chết. Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự và Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự, cần chấp nhận yêu cầu của chị Nông Thị L, tuyên bố anh Vi Quang V mất tích.

3. Về lệ phí: Chị Nông Thị L là người yêu cầu phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b Khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu “ Tuyên bố một người mất tích” của chị Nông Thị L.

Tuyên bố: Anh Vi Quang V, sinh năm 1981; Nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn B 1, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (nay là: Thôn B 1, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) mất tích.

2. Về lệ phí việc dân sự: Chị Nông Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị Nông Thị L đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng lệ phí Tòa án số: 03707 ngày 26/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B. Xác nhận chị Nông Thị L đã nộp đủ lệ phí.

Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ