vanban.org

Quyết định 02/2020/QĐ-TA

TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 08/05/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 03 ngày kể từ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG KHÊ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2020/QĐ-TAHương Khê, ngày 08 tháng 05 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

[

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Lê Trọng Hùng.

2.Thư ký phiên họp: Bà Phan Thị Hà.

Ngày 08 tháng 05 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 02/2020/QĐ-TA, ngày 28 tháng 04 năm 2020. Đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn C. Giới tính: Nam. Sinh ngày 10 tháng 07 năm 1994. CMND số: 184028546; ngày cấp: 07/4/2010; nơi cấp: Công an Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Hộ khẩu thường trú: Xã G, huyện H, tỉnh H. Chỗ ở: Thôn P, Xã G, huyện H, tỉnh H. Nghề nghiệp: Không. Con ông: Nguyễn Quốc K và bà Nguyễn Thị H. Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần. Vắng mặt tại phiên họp không có lý do.

Phiên họp còn có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Xuân T. Chức vụ: Chuyên viên phòng Lao động thương binh xã hội huyện H, tỉnh H.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh H: Ông Nguyễn Văn B. Chức vụ: Kiểm sát viên.

3. Đại diện UBND Xã G, huyện H, tỉnh H: Ông Phạm Xuân L. Chức vụ: Trưởng công an Xã G.

NHẬN THẤY:

Nguyễn Văn C là đối tượng nghiện ma túy, thời điểm sử dụng ma túy lần đầu là vào năm 2013, đã bị Chủ tịch UBND Xã G, huyện H áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Ngày 05/03/2020, Nguyễn Văn C tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an Xã G, huyện Hphát hiện.

Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 17/03/2020 của Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội tỉnh H đã xác định Nguyễn Văn C là người nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng: Heroin, ma túy đá.

Vì vậy, Chủ tịch UBND Xã G, huyện H đã ban hành Quyết định về việc giao cho công an viên và giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian chờ làm thủ tục.

Ngày 31/03/2020, Phòng Lao động thương binh xã hội huyện H đã có văn bản số 65/LĐTBXH kèm hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân huyện H xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động thương binh xã hội huyện H vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án nhân dân huyện H xem xét áp dụng biện pháp đưa đối tượng Nguyễn Văn C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu ý kiến:

- Người bị đề nghị anh Nguyễn Văn C đủ điều kiện để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95; khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 1 Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013. Mặt khác hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng bị đề nghị đang trong thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 4 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

- Hồ sơ đề nghị đầy đủ các tài liệu, đảm bảo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 12 Pháp lệnh số 09 và Điều 9 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.

- Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện cũng như của Chủ tịch UBND Xã G đã chấp hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Đề nghị Tòa án: Chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động-Thương binh & Xã hội huyện H và ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C với thời hạn 24 tháng.

Sau khi nghe ý kiến của Cơ quan đề nghị và đại diện Viện kiểm sát và xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp.

XÉT THẤY:

1. Về tố tụng: Nguyễn Văn C có nơi cư trú ổn định tại Xã G, huyện H, tỉnh H, Chủ tịch UBND Xã G lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là có căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Về thẩm quyền ra Quyết định áp dụng đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Người bị đề nghị đối tượng Nguyễn Văn C đã được thông báo, tống đạt hợp lệ Quyết định mở phiên họp nhưng vẫn vắng mặt tại phiên họp không có lý do chính đáng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 19 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì Tòa án vẫn tiếp tục mở phiên họp là đúng quy định.

2. Về hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hồ sơ đề nghị do Chủ tịch UBND Xã G, huyện H lập đầy đủ theo đúng trình tự, thủ tục, về việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ được thực hiện đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5, Điều 95, Điều 9, điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 103, Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Đối tượng Nguyễn Văn C là người nghiện ma túy, có nơi cư trú ổn định, đã bị Chủ tịch UBND Xã G, huyện H ra Quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện, giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời gian 03 tháng. Sau khi chấp hành xong, ngày 20/3/2017 đã được Chủ tịch UBND Xã G, huyện H cấp Giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, đối tượng Nguyễn Văn C vẫn không cai nghiện được, vẫn tiếp tục sử dụng ma túy như bản tường trình của C thừa nhận. Ngày 17/03/2020, Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội tỉnh Hà Tĩnh đã có Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Nguyễn Văn C phát hiện thấy dương tính với ma túy. Như vậy, Nguyễn Văn C vẫn còn nghiện ma túy và không thể tự cai nghiện được tại gia đình và ngoài xã hội, cần thiết áp dụng biện pháp khác nghiêm khắc hơn mới có thể giúp C cai nghiện được ma túy. Nguyễn Văn C là đối tượng được áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và theo khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/09/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Vì vậy, Phòng Lao động thương binh xã hội huyện H và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C với thời hạn 24 tháng là cần thiết, nhằm mục đích để C được áp dụng các biện pháp điều trị, tư vấn, học tập, lao động, rèn luyện để phục hồi sức khỏe, nhận thức, tâm lý, hành vi và nhân cách trở về trạng thái bình thường không còn phụ thuộc vào ma túy.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5, Điều 95, khoản 1 Điều 96, điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 107, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

Căn cứ vào các Điều 3, Điều 4, Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 11 và Điều 12 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và các khoản 1, 2, 4 Điều 1 của Nghị định số 136/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 3, Điều 12, khoản 2 Điều 19, Điều 20, Điều 22, Điều 23, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn C.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt có quyền khiếu nại Quyết định trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Phòng Lao động thương binh xã hội huyện H có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện H có quyền kháng nghị Quyết định trong hạn 03 ngày kể từ ngày công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành án Quyết định: Phòng Lao động thương binh xã hội huyện H phối hợp với Công an huyện H, tỉnh H đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ