- Tranh chấp gì? "Đưa vào cơ sở CNBB Vàng Mí G"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Mí G - Sinh ngày 12/3/1968; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Lũng Hòa A, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang;
- Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH HÀ GIANG –––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/QĐ-TA | Đ, ngày 15 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH HÀ GIANG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Bùi Văn Đàm
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Dung
Ngày 15 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 02/QĐ-TA ngày 07 tháng 9 năm 2020 đối với:
Họ và tên: Vàng Mí G (tên gọi khác: Vàng Dũng G); Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 12/3/1968;
CMND số: 073542196; Ngày cấp 27/6/2016; Nơi cấp: Công an tỉnh Hà Giang;
Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Không;
Nguyên quán: Xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang;
Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang;
Chỗ ở: Thôn L, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang;
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Không.
Con ông: Vàng Nỏ L (đã chết năm 2001) và bà: Sùng Thị M (sinh năm 1946).
Vắng mặt tại phiên họp, không lý do.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị:: Bà Nguyễn Thị Phương Anh - Chức vụ: Trưởng phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Đ, tỉnh Hà Giang.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Giang: Ông Đỗ Quốc Bảo - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và kết quả hỏi tại phiên họp, nội dung vụ việc được xác định như sau:
Vàng Mí G là đối tượng nghiện ma túy từ tháng 9 năm 2019, không có việc làm ổn định, có quan hệ với một số đối tượng sử dụng ma túy ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Ngày 19/5/2020, Vàng Mí G bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã S với thời hạn là 03 tháng kể từ ngày 19/5/2020 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo quyết định số 269/QĐ-UBND. Ngày 17 tháng 8 năm 2020, Công an xã S phối hợp với các cơ quan ban ngành có liên quan tiến hành mời Vàng Mí G đến UBND xã S để xét nghiệm lại tình trạng ma túy. Qua kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu của Dũng, Trạm y tế xã S kết luận: Tại thời điểm xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của Vàng Mí G có phản ứng dương tính với Morphine.
Ngày 17/8/2020, Chủ tịch UBND xã S ra Quyết định số 315/QĐ-UBND về việc chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đồng thời lập hồ sơ và thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Mí G. Ngày 24/8/2020, hồ sơ được chuyển đến Phòng Tư pháp huyện Đ để kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ. Ngày 27/8/2020, Phòng Tư pháp huyện Đ chuyển hồ sơ đến Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Đ. Ngày 31/8/2020, Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Đ có văn bản đề nghị và chuyển hồ sơ đến Tòa án để xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Mí G.
Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị có ý kiến: Vàng Mí G là người trưởng thành, có đủ năng lực hành vi dân sự, mặc dù ý thức được tác hại của việc sử dụng ma túy, đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn, nhưng vẫn không tiến bộ, vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, nên cần có biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để Vàng Mí G tiếp tục được cai nghiện. Vì vậy đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ áp dụng biện pháp đưa Vàng Mí G vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 18 đến 24 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ có ý kiến: Từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và người tham gia phiên họp đã tuân thủ và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Riêng Vàng Mí G tuy đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt tại phiên họp, không có lý do, việc Tòa án vẫn tiến hành phiên họp là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 19 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Do vậy, Tòa án có đủ căn cứ để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Mí G theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Đ.
Tại phiên họp, Vàng Mí G vắng mặt không lý do. Tuy nhiên, tại biên bản lấy lời khai và bản tường trình, người bị đề nghị nhất trí với kết quả xét nghiệm, không có ý kiến gì.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và ý kiến của những người tham gia phiên họp thấy rằng:
Trong thời gian bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã S về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Vàng Mí G tiếp tục sử dụng ma túy nên Chủ tịch UBND xã S ra Quyết định chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại thị trấn và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng với quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 1 Điều 96; điểm a khoản 1 Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 2 Điều 3; Điều 4; khoản 1 Điều 9 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016). Trưởng phòng Tư pháp huyện Đ đã thực hiện đúng các nội dung, trình tự, thủ tục được quy định tại các Điều 16, 17, 18, 19, 20 Thông tư số 19/2015/TT-BTP ngày 28/12/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định việc kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Mí G được Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Đ chuyển sang Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý và giải quyết là đúng quy định tại khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vàng Mí G là đối tượng nghiện ma túy có đủ nhận thức được rằng tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, trong thời gian đang chấp hành biện pháp giáo dục tại thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Vàng Mí G vẫn tiếp tục tái nghiện. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Dũng không những làm huỷ hoại sức khoẻ, mất khả năng lao động, ảnh hưởng tới giống nòi mà còn làm thoái hoá nhân cách, rối loạn hành vi. Người nghiện ma túy dễ có lối sống buông thả, vi phạm pháp luật; làm tiêu hao tiền bạc của bản thân và gia đình, gây mâu thuẫn, bất hoà với bạn bè, người thân, mất lòng tin với mọi người; gia đình tốn thời gian, chi phí chăm sóc và điều trị các bệnh của người nghiện do ma tuý gây ra; xã hội mất trật tự an toàn, gia tăng các tệ nạn, ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc. Bản thân Dũng nhận thức rõ những tác hại kể trên nhưng không thể tự cai nghiện tại cộng đồng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Vàng Mí G không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, không được hưởng tình tiết giảm nhẹ nào. Về nhân thân: Vàng Mí G chưa có tiền án, tền sự, nhân thân tốt.
Xét ý kiến của Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Đ và đại diện Viện kiểm sát. Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân cũng như quá trình tự tu dưỡng, ý thức chấp hành của đối tượng, Tòa án nhân dân huyện Đ thấy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Mí G với thời hạn theo mức đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Đ là cần thiết, nhằm bảo vệ lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng và lợi ích của chính bản thân cũng như gia đình Vàng Mí G, phù hợp với quy định tại Điều 95; khoản 1 Điều 96; khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vàng Mí G có quyền khiếu nại, Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Đ có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát huyện Đ có quyền kháng nghị theo quy định tại các Điều 30, 31, 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 về trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Vàng Mí G - Sinh ngày 12/3/1968; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Lũng Hòa A, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang;
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Vàng Mí G có quyền khiếu nại; Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Đ có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ có quyền kháng nghị Quyết định này trong hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Đ chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội huyện Đ đưa người đi thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Hà Giang) theo quy định tại khoản 1 Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính và thông báo cho Tòa án nhân dân huyện Đ kết quả thi hành Quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đ; - Trưởng Công an huyện Đ; - Trưởng Phòng LĐ- TBXH huyện Đ; - UBND xã S; - Vàng Mí G; - Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Hà Giang; - Lưu hồ sơ, vp. | THẨM PHÁN Bùi Văn Đàm |