- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "bà Nguyễn Thị Luật yêu cầu tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị L:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2019/QĐST-VDS | Lâm Hà, ngày 29 tháng 8 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
VỀ VIỆC YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI MẤT TÍCH
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Trung Kiên.
- Thư ký phiên họp: Ông Phan Khắc Duy – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2019/TLST-VDS ngày 18 tháng 01 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 03/2019/QĐST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958. Địa chỉ: TDP T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Minh H, sinh năm 1960. Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu tuyên bố mất tích và bản tự khai người yêu cầu bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà và ông Trần Minh H kết hôn vào năm 1985, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà. Quá trình chung sống, bà và ông H có 04 người con chung là Trần Quang Tr sinh năm 1985, Trần Xuân Th sinh năm 1987, Trần Thanh Tm sinh năm 1991 và Trần Nam S sinh năm 1995. Cuộc ống vợ chồng hòa thuận không có mâu thuẫn, nhưng ông H tự bỏ đi từ tháng 03/2005 cho đến nay không rõ tung tích, một mình bà chăm sóc con cái. Bà và gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi, bằng rất nhiều cách nhưng đều không tìm được tung tích ông H và không có bất kỳ thông tin gì của ông H. Bà đã trình báo chính quyền địa phương sự việc ông H bỏ đi và đã được địa phương xác nhận. Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Minh H bị mất tích.
Theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị L, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm ông Trần Minh H trên các phương tiện thông tin đại chúng theo đúng trình tự quy định của Bộ L Tố tụng dân sự nhưng đến nay vẫn không có tin tức của ông Trần Minh H.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo hướng chấp nhận đơn yêu cầu của bà L. Do bà L là người cao tuổi nên bà L được miễn lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự. Bà L phải chịu toàn bộ chi phí đăng tin theo quy định của pháp L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà nhận định:
[1] Bà L và ông H xây dựng gia đình với nhau vào năm 1985, có với nhau 04 người con là Trần Quang Tr sinh năm 1985, Trần Xuân Th sinh năm 1987, Trần Thanh Tm sinh năm 1991 và Trần Nam S sinh năm 1995. Theo bà L trình bày thì trong quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc không có mâu thuẫn, ông H đã tự ý bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 3/2005, không liên lạc với gia đình. Bà L đã tìm cách liên lạc với ông H nhưng không liên lạc được. Bà L cũng đã tìm kiếm ông H nhiều lần, ở nhiều nơi nhưng không tìm thấy, bà cũng đã nhờ họ hàng bên phía gia đình ông H tìm kiếm nhưng cũng không biết tin tức hiện nay ông H đang ở đâu.
Theo chứng cứ do bà L cung cấp thì ông H bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 3/2005. Theo yêu cầu của bà L, Tòa án đã thực hiện việc thông báo tìm kiếm ông H trên phương tiện thông tin đại chúng theo đúng trình tự quy định của Bộ L Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, kể từ ngày đăng tin đầu tiên đến nay đã hơn 04 tháng nhưng vẫn không có tin tức gì của ông H. Qua xác minh được biết ông Trần Minh H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng , ông H đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 3/2005 đến nay không có tin tức. Tòa án đã ủy thác xác minh ông Trần Đức Th là em ruột của ông Trần Minh H; bà Trần Thị Th, bà Trần Thị T là chị ruột của ông Trần Minh H. Ông Th, bà Th, bà T đều không biết ông H đi đâu và làm gì. Tòa án cũng đã xác minh anh Trần Thanh Tm là con của ông Trần Minh H về tin tức của ông H nhưng anh Tm cũng không biết ông H hiện đang ở đâu. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định ông Trần Minh H có hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng và ông H đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 3 năm 2005 đến nay không có tin tức, nay bà Nguyễn Thị L là vợ ông H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông H bị mất tích là có căn cứ nên cần chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị L, tuyên bố ông Trần Minh H bị mất tích là phù hợp.
[2] Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị L là người cao tuổi (trên 60 tuổi) nên được miễn nộp lệ phí sơ thẩm. Do vậy, cần hoàn trả cho bà L số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp.
[3] Về chi phí đăng tin: Bà Nguyễn Thị L phải chịu toàn bộ chi phí đăng tin tìm kiếm ông Trần Minh H trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp L.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ L Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149 và các Điều 367, 369, 370, 371, 372, khoản 2 Điều 385, 387, 388 và 389 Bộ L Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị L:
Tuyên bố ông Trần Minh H, sinh năm 1960 – Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Bà Nguyễn Thị L được miễn nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0000960 ngày 18/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
3. Về chi phí đăng tin: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 1.936.000 đồng (Một triệu chín trăm ba mươi sáu nghìn đồng) chi phí đăng tin. Số tiền này bà L đã nộp đủ và đã được quyết toán xong.
4. Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn mười ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Lâm Hà; - Chi cục THA dân sự huyện Lâm Hà; - UBND thị trấn N; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | T.M HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP đã ký Lê Trung Kiên |