vanban.org

Quyết định 02/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố anh T1 mất tích.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Huyền T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí Tòa án số AA/2017/0003152 ngày 10 tháng 9 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên; chị T đã nộp đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "QĐ tuyên bố một người mất tích Nguyễn Thị Huyền T - Lê Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố anh T1 mất tích.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2019/QĐST- VDS
“V/v yêu cầu tuyên bố một
người mất tích”
Bình Xuyên, ngày 31 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI MẤT TÍCH

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên họp: Bà Vũ Lan Hương - Kiểm sát viên.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên họp: Bà Phan Thị Thanh Mai - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 20/2018/TLST - VDS ngày 11 tháng 09 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, đối với:

Người yêu cầu: Chị Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1986;

Trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn C, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

Người bị yêu cầu: Anh T1, sinh năm 1984;

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đ, xã Đ1, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.

NHẬN THẤY:

Theo đơn yêu cầu đề ngày 10 tháng 8 năm 2018 và những lời khai tiếp theo người yêu cầu là chị Nguyễn Thị Huyền T trình bày: Chị và anh T1 kết hôn với nhau vào ngày 27 tháng 02 năm 2012 đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ1, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện không bị ép buộc, lừa rối. Sau khi kết hôn chị và anh T1 về chung sống với nhau tại gia đình nhà chồng ở thôn Đ, xã Đ1, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

Quá trình chung sống chị và anh T1 sinh được 01 người con chung là cháu Lê Nhật Minh, sinh ngày 31 tháng 10 năm 2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống không xảy ra mâu thuẫn gì, đến tháng 5 năm 2015 phát sinh mâu thuẫn vợ chồng đánh cãi chửi nhau nhiều lần nên anh T1 đã bỏ nhà đi để lại cho chị nuôi cháu Lê Nhật Minh từ đó cho đến nay.

Sau khi anh T1 bỏ đi, chị có đi tìm ở nhiều nơi, hỏi bạn bè, người thân những nơi anh T1 có thể đến nhưng đều không thấy tin tức gì. Chị có báo thôn và chính quyền địa phương tìm anh T1 trên đài phát thanh của xã nhưng không thấy. Kể từ đó đến nay không thấy anh T1 trở về, cũng như không có thông tin gì về anh T1 còn sống hay đã chết.

Nay chị làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T1 mất tích để chị làm thủ tục ly hôn với anh T1. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với anh T1. Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.

Tại phiên họp Kiểm sát viên đề nghị Tòa án chấp nhận tuyên bố một người mất tích đối với anh T1 theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị Huyền T.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào lời trình bày của người yêu cầu, nhận định:

Năm 2012, chị Nguyễn Thị Huyền T kết hôn với anh T1 được đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ1, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 27 tháng 02 năm 2012. Quá trình chung sống đến tháng 5 năm 2015 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, xích mích với nhau trầm trọng nên anh T1 đã bỏ nhà đi biệt tích. Chị T cũng đã tìm kiếm nhiều nơi và Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 20/2018/QĐST - VDS ngày 01 tháng 10 năm 2018 đối với anh T1 nhưng không thấy anh T1 trở về. Tòa án đã xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ1, huyện B là nơi sinh trú quán của anh T1 thì được biết từ khoảng tháng 5 năm 2015 đến nay không thấy anh T1 có mặt tại địa phương, anh T1 đã bỏ đi biệt tích ở đâu địa phương cũng không biết. Tòa án đã thông báo tìm kiếm người mất tích đối với anh T1 trên phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể, Báo Công Lý trong ba số liên tiếp; Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông đa phương tiện (Đài tiếng nói Việt Nam) ba lần trong ba ngày liên tiếp, Cổng thông tin giao tiếp điện tử tỉnh Vĩnh Phúc ( Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc) trong ba ngày liên tiếp với thời hạn là 04 tháng nhưng từ đó đến nay không thấy tin tức gì của anh T1, không thấy anh T1 đến Tòa án làm việc và cũng không thấy anh T1 về địa phương, sau khi Tòa án đăng báo, địa phương và gia đình cung cấp đều không thấy tin tức gì của anh T1. Tính từ thời điểm cuối cùng là ngày 01 tháng 5 năm 2015 đến nay là 05 năm 00 tháng 26 ngày liền anh T1 không có tin tức xác thực là còn sống hay đã chết, hiện đang làm gì, ở đâu. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật dân sự và căn cứ vào chứng cứ mà Tòa án đã thu thập được việc chị Nguyễn Thị Huyền T yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với anh T1 là có căn cứ cần chấp nhận.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; các Điều 370, 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố anh T1 mất tích.

2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Huyền T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí Tòa án số AA/2017/0003152 ngày 10 tháng 9 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên; chị T đã nộp đủ tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

3. Người yêu cầu, người bị yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ