vanban.org

Quyết định 02/2019/QĐST-HNGĐ — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TX. Thái Hòa, tỉnh Nghệ An Tuyên án 21/02/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; nơi cư trú cuối cùng: Xóm 10, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Lê C phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm. Anh C đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0000421 ngày 11 tháng 9 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án thị xã T, tỉnh Nghệ An. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; nơi cư trú cuối cùng: Xóm 10, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An mất tích.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ T
NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2019/QĐST-HNGĐThị xã T, ngày 21 tháng 02 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ T, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Phùng Thị Hương Giang

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Nghệ An tham gia phiên họp: Bà Đặng Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã T, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 12/2018/TLST-HNGĐ ngày 17/9/2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2019/QĐST-HNGĐ ngày 13/02/2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Lê C, sinh năm 1977

Trú tại: Xóm 10, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981 Nơi cư trú cuối cùng: Xóm 10, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976 Trú tại: Khối 3, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự anh Nguyễn Lê C trình bày tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, bản tự khai và tại phiên họp hôm nay như sau:

Anh Nguyễn Lê C và chị Nguyễn Thị H kết hôn vào ngày 19/12/2012 tại UBND xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện, thương yêu nhau. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường và có 01 con chung là Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 25/9/2013. Đến năm 2014 chị H tự ý bỏ nhà và đưa con đi đâu không có địa chỉ, không liên lạc gì cho ai. Biệt tích luôn từ đó đến nay, không có tin tức gì. Mặc dù anh C đã tìm kiếm khắp nơi nhưng không có kết quả, anh em, họ hàng nội ngoại, bạn bè không biết chị H ở đâu, làm gì. Anh cũng đã yêu cầu Tòa án thị xã T, tỉnh Nghệ An đăng tin thông báo tìm kiếm chị Hoa trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương theo quy định của pháp luật nhưng đều không có kết quả. Vì vậy, nay anh yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị H mất tích để đảm bảo mọi quyền lợi cho anh.

Quá trình chung sống anh C và chị H không tạo lập được tài sản gì chung, khi chị H bỏ đi không có tài sản gì để lại cho gia đình, nên anh C không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích.

Tại phiên họp đại diện Việm kiểm sát nhân dân thị xã T, tỉnh Nghệ An phát biểu: Về tố tụng Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, thời hạn mở phiên họp. Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phám, Thư ký, người yêu cầu giải quyết việc dân sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai, trình bày của người yêu cầu giải quyết việc dân sự. Xét yêu cầu của anh Nguyễn Lê C là có cơ sở. Căn cứ vào điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 3 điều 27; điểm a khoản 2 điều 35; khoản 2 điều 67 và các điều 370; 371; 389; 149 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án): Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Nguyễn Lê C. Anh C phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của người yêu cầu và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã T nhận định:

Người yêu cầu là anh Nguyễn Lê C có hộ khẩu và chỗ ở hiện nay tại xóm 10, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An, do vậy Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Nghệ An có thẩm quyền giải quyết vụ việc là đúng quy định của pháp luật theo điểm b khoản 2 điều 35; điểm t khoản 2 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Nguyễn Lê C thì thấy: Anh Nguyễn Lê C và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự ngyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Sau thời gian kết hôn anh C và chị H chung sống bình thường và có 01 con chung là Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 25/9/2013. Tuy nhiên đến khoảng tháng 5 năm 2014 chị Hoa tự ý bỏ nhà đưa con đi đâu không có địa chỉ, không liên lạc gì, gia đình nội ngoại, anh em, bạn bè hai bên cũng không biết chị H làm gì, ở đâu, biệt tích luôn từ đó đến nay. Như vậy thời gian chị H bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay đã hơn 04 (bốn) năm, không có tin tức xác thực gì mặc dù anh C đã tìm kiếm chị H nhiều nơi, áp dụng mọi biện pháp thông báo, tìm kiếm. Tòa án nhân dân thị xã T đã ra Quyết định tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị H và đăng tin tìm kiếm trên báo Công lý số 79 ngày 03/10/2018, số 80 ngày 05/10/2018, số 81 ngày 10/10/2018 và thông báo lên đài tiếng nói Việt Nam vào các ngày 02, 03, 04 tháng 10 năm 2018. Đồng thời theo lời khai của chị Nguyễn Thị H (chị gái ruột của chị H) xác định chị H bỏ nhà đi từ tháng 5 năm 2014 cho đến nay, đi đâu, làm gì gia đình không ai biết và cũng theo biên bản xác minh tại UBND xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An ngày 21/9/2018 xác nhận chị H bỏ nhà đi đã lâu, gia đình cũng như chính quyền địa phương không có tin tức gì đối với chị H. Nay thời gian đăng tin tìm kiếm chị H trên báo đài Trung ương đã hết thời hạn mà vẫn không có kết quả gì, không có tin tức xác thực về việc chị H còn sống hay đã chết.

Để đảm bảo quyền lợi cho anh Nguyễn Lê C và theo quy định tại điều 68 Bộ luật dân sự; các điều 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự thì có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị H mất tích theo yêu cầu của anh Nguyễn Lê C cũng như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thị xã T tại phiên họp.

Quá trình chung sống anh C và chị H không tạo lập được tài sản gì chung, khi chị Hoa bỏ đi không có tài sản gì để lại cho gia đình, nên anh C không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích nên Tòa án không xem xét.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án) anh Nguyễn Lê C phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 3 điều 27; điểm a khoản 2 điều 35; khoản 2 điều 67 và các điều 370; 371; 372; 389 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Nguyễn Lê C.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; nơi cư trú cuối cùng: Xóm 10, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An mất tích.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Nguyễn Lê C phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí sơ thẩm. Anh C đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0000421 ngày 11 tháng 9 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án thị xã T, tỉnh Nghệ An.

Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ