- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Mai Thị Đ.
- Căn cứ chính? Luật phí và lệ phí Tòa án; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2019/QĐST-DS | Chí Linh, ngày 17 tháng 9 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Văn Lâm
Thư ký phiên họp: Bà Đào Thị Hậu - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên họp: Bà Vũ Thị Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 17/9/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 32/2019/TLST - DS ngày 28 tháng 8 năm 2019 về “Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Mai Thị Đ, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khu dân cư K, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1970; nơi cư trú: Khu dân cư K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu đề ngày 19/8/2019, quá trình chuẩn bị xét đơn yêu cầu và tại phiên họp, người yêu cầu là chị Mai Thị Đ trình bày:
Năm 2002, chị Đ kết hôn với anh Nguyễn Văn B và về chung sống với anh B tại thôn K, xã V (nay là khu dân cư K, phường V, thành phố C), tỉnh Hải Dương. Đến năm 2012 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn K, xã T (nay lày khu dân cư K, phường T, thành phố C), tỉnh Hải Dương ở một thời gian sau đó chị sang Đài Loan sống bất hợp pháp, không liên lạc về cho gia đình, người thân. Đầu năm 2016, anh B yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương tuyên bố chị Đ mất tích. Tại quyết định tuyên bố một người mất tích số 01/2016/QĐ-VDS ngày 01/6/2016, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương đã tuyên bố chị Đ mất tích. Nay, chị Đ trở về, sinh sống tại khu dân cư K, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương và yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích nêu trên đối với chị.
Tại bản tự khai đề ngày 05/9/2019, anh Nguyễn Văn B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Năm 2016, anh đã yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương tuyên bố chị Đ là vợ anh mất tích vì chị Đ đã biệt tích từ tháng 7/2012, không có tin tức gì. Tại quyết định tuyên bố một người mất tích số 01/2016/QĐ-VDS ngày 01/6/2016, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương đã tuyên bố chị Đ mất tích. Anh được biết chị Đ đã trở về và hiện đang sinh sống tại khu dân cư K, phường T, thành phố C từ cuối tháng 7/2019. Nay, chị Đ yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích nêu trên, anh B đồng ý và không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án và người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đề nghị Tòa án: Áp dụng khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 388, Điều 390 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 70 Bộ luật dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của chị Mai Thị Đ, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích số 01/2016/QĐ-VDS ngày 01/6/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương; về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích: Không có nên không đặt ra giải quyết; về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Đ phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương nhận định:
Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương đã ra quyết định tuyên bố chị Mai Thị Đ mất tích. Nay, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh giải quyết yêu cầu của chị Đ về việc yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích đối với chị là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm c khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về yêu cầu của chị Mai Thị Đ: Chị Đ và anh B kết hôn với nhau năm 2002 sau đó anh chị về sống tại thôn K, xã V (nay là khu dân cư K, phường V, thành phố C), tỉnh Hải Dương. Đến năm 2012, anh chị xảy ra mâu thuẫn, chị Đ đã bỏ đi khỏi nơi cư trú từ tháng 7/2012 không liên lạc gì với anh B và gia đình. Đầu năm 2016, anh B yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương tuyên bố chị Đ mất tích. Tại quyết định tuyên bố một người mất tích số 01/2016/QĐ-VDS ngày 01/6/2016, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương đã tuyên bố chị Đ mất tích. Nay, chị Đ đã trở về và yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích nêu trên đối với chị là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 70 Bộ luật dân sự và Điều 390 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích: Việc chị Đ bị Tòa án tuyên bố mất tích không phát sinh hậu quả gì về nhân thân và tài sản, chị Đ và anh B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Mai Thị Đ phaỉ nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm c khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 388, Điều 390 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 70 Bộ luật dân sự; Luật phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu của chị Mai Thị Đ. Huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích số 01/2016/QĐ-VDS ngày 01/6/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh (nay là Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương đối với chị Mai Thị Đ.
- Về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích: Không đặt ra giải quyết.
- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Mai Thị Đ phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí chị Đ đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0001465 ngày 28/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Chị Đ đã nộp đủ lệ phí.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Văn Lâm |