- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố anh Ngô Văn K mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2019/QĐST-DS | Nam Định, ngày 29 tháng 01 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Thu Định - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên họp: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 12/2018/TLST-VDS ngày 27 tháng 8 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2019/QĐST-VDS ngày 25 tháng 01 năm 2019.
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị T - sinh năm 1972; nơi cư trú: Số 491 đường Đ, phường T, thành phố Đ, tinh Nam Định. Chị T vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Văn K - sinh năm 1968; nơi cư trú: Số 51B đường Đ, phường Đ, thành Đ, tỉnh Nam Định.
- Người làm chứng: Anh Ngô Đăng K1 - sinh năm 1956; nơi cư trú: Số 51B đường Đ, phường Đ, thành Đ, tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại bản tự khai ngày 29-8-2018 và tại phiên họp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự là chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Ngô Văn K chung sống với nhau có đăng ký kết hôn năm 2004 tại Ủy ban nhân dân phường Trần Hưng Đạo, thành phố Nam Định. Vợ chồng có hai con chung là Ngô Quốc Đ, sinh năm 1993 và Ngô Thị Thu H, sinh năm 2003. Anh K có đăng ký hộ khẩu thường trú cùng anh trai ruột là anh Ngô Đăng K1 tại số 51B đường Đ, phường Đ, thành phố Đ. Năm 2009, anh K có đi xuất khẩu lao động tại Hungary. Thời gian sau đó, anh K có về thăm gia đình một thời gian ngắn rồi lại tiếp tục đi làm ăn, không nói cho chị và gia đình biết địa chỉ của anh K. Từ đó đến nay, anh K không liên lạc về gia đình. Chị và gia đình không có tin tức gì về anh K. Chị đã tìm thông tin qua gia đình, bạn bè của anh K nhưng không ai biết anh K ở đâu. Nay chị đề nghị Tòa án tuyên bố anh Ngô Văn K mất tích để giải quyết ly hôn với anh Ngô Văn K. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Anh Ngô Đăng K1 (là anh trai ruột anh Ngô Văn K) trình bày: Chị Nguyễn Thị T và anh Ngô Văn K kết hôn năm 2004 và có hai con chung là Ngô Quốc Đ, sinh năm 1993 và Ngô Thị Thu H, sinh năm 2003. Năm 2009, anh K đi xuất khẩu lao động tại Hungary. Khoảng năm 2014, anh K có về thăm gia đình một thời gian ngắn rồi lại tiếp tục đi làm ăn. Từ đó đến nay, anh K không liên lạc về gia đình, gia đình cũng không biết anh K ở đâu. Chị T và anh K không có tài sản chung. Việc chị T đề nghị Tòa án tuyên bố anh Ngô Văn K mất tích, anh không có ý kiến gì.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị T, Tòa án đã đăng thông báo tìm kiếm anh Ngô Văn K trên báo Công lý trong các ngày 03, 05 và 10 tháng 10 năm 2018; nhắn tin tìm anh Ngô Văn K trên Đài tiếng nói Việt Nam trong các ngày 25, 26 và 27 tháng 9 năm 2018 và thông tin trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối cao nhưng anh Ngô Văn K không liên hệ và không đến Tòa án làm việc. Tòa án xác minh tại tổ dân phố nơi cư trú cuối cùng của anh Ngô Văn K cũng xác nhận anh K đã vắng mặt tại địa phương từ năm 2014 đến nay và cũng không ai biết tin tức, địa chỉ của anh K.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định về việc giải quyết việc dân sự: Tòa án đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Đề nghị Tòa án căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, tuyên bố anh Ngô Văn K mất tích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định nhận định:
1. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Yêu cầu về việc “Tuyên bố một người tích” là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại thành phố Nam Định nên căn cứ khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.
2. Về quyền yêu cầu:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Nguyễn Thị T là người có quyền, lợi ích liên quan nên có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Ngô Văn K mất tích.
3. Về giải quyết yêu cầu của đương sự:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đơn yêu cầu ngày 27-8-2018, bản tự khai của người yêu cầu là chị Nguyễn Thị T thì yêu cầu và các căn cứ đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự như sau:
Chị Nguyễn Thị T và gia đình anh Ngô Văn K không xác định được ngày, tháng mà chỉ xác định được năm có tin tức cuối cùng của anh K nên căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định thời điểm có tin tức cuối cùng của anh K là ngày 01-01-2015. Như vậy, anh K biệt tích đã trên hai năm. Tòa án đã xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của anh K và áp dụng các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng không có tin tức xác thực về việc anh K còn sống hay đã chết. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T về việc tuyên bố anh Ngô Văn K mất tích.
Về tài sản: Chị Nguyễn Thị T và anh Ngô Đăng K1 là anh trai ruột của anh K trình bày vợ chồng chị T và anh K không có tài sản chung nên Tòa án không đặt ra giải quyết việc quản lý tài sản của anh Ngô Văn K.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị T phải nộp theo quy định tại Điều 149 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 68, Điều 69 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 149, Điều 361, Điều 371, Điều 387, Điều 388, Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T.
Tuyên bố anh Ngô Văn K, sinh năm 1968; nơi cư trú cuối cùng: Số 51B đường Đ, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Nam Định mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng chị Thủy đã nộp tại biên lai số 0000237 ngày 27-8-2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định; chị T đã nộp đủ lệ phí việc dân sự.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Anh Ngô Văn K có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày niêm yết quyết định.
Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND thành phố Nam Định; - Chi cục THADS thành phố Nam Định; - UBND phường Đ; - Đương sự; - Lưu HS. | THẨM PHÁN (đã ký) Phạm Thị Thu Định |