- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích"
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! QUẬN!NGÔ!QUỀN! THÀNH!PHỐ!HẢI!PHÒNG! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2019/QĐST-DS |
QUYẾT!ĐỊNH
SƠ!THẨM!GIẢI!QUYẾT!VIỆC!DÂN!SỰ
V/v tuyên!bố!một!người!mất!tích
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!QUẬN!NGÔ!QUYỀN,!THÀNH!PHỐ!HẢI!PHÒNG!
Thành"phần"giải"quyết"việc"dân"sự"gồm"có:"
Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"họp: Bà Đào Thị Hương
Thư"ký"phiên"họp: Bà Hoàng Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"quận"Ngô"Quyền,"thành"phố"Hải"Phòng" tham"gia"phiên"họp:!Bà Trịnh Thị Nhật Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 35/2018/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2018 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 135/2019/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
-"Người"yêu"cầu"giải"quyết"việc"dân"sự: Chị Nguyễn Thị Hồng A; nơi cư trú: Đường Đ, phường M, quận N, thành phố H; có mặt.
NỘI!DUNG!VIỆC!DÂN!SỰ:
Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu chị Nguyễn Thị Hồng A trình bày:
Chị Nguyễn Thị Hồng A và anh Bùi Quang B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh E ngày 12/3/2011. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Đến tháng 9 năm 2015 anh B bỏ nhà đi đâu không rõ, không liên lạc và không có tin tức gì từ đó đến nay. Chị và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có thông tin gì về anh B. Đến nay đã hơn 02 năm mà không có tin tức xác thực về việc anh B còn sống hay đã chết nên chị Nguyễn Thị Hồng A có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Bùi Quang B mất tích. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Hồng A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng của anh Bùi Quang B, Ủy ban nhân dân phường phường M, quận N, thành phố H và Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên họp chị Nguyễn Thị Hồng A giữ nguyên quan điểm như nội dung đơn yêu cầu, bản tự khai và đề nghị Tòa án tuyên bố anh Bùi Quang B mất tích, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết việc dân sự: Đây là quan hệ pháp luật về yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với anh Bùi Quang B có nơi cư trú cuối cùng tại quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Về nội dung: Anh Bùi Quang B đã biệt tích hai năm trở lên mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh Bùi Quang B còn sống hay đã chết, đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 372, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hồng A, tuyên bố anh Bùi Quang B mất tích, không giải quyết về tài sản chung. Chị Nguyễn Thị Hồng A phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
[1] Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Hồng A có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Bùi Quang B mất tích. Đây là quan hệ pháp luật về yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Người bị yêu cầu anh Bùi Quang B, sinh năm 1982, nơi cư trú cuối cùng: Đường Đ, phường M, quận N, thành phố H, nên theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
[2] Về thời hạn giải quyết: Ngày 06 tháng 12 năm 2018, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền thụ lý đơn yêu cầu, đến ngày 16 tháng 4 năm 2019 Tòa án ra Quyết định mở phiên họp. Như vậy, Tòa án đã tiến hành giải quyết việc dân sự theo đúng thời hạn quy định tại Điều 388 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Chị Nguyễn Thị Hồng A và anh Bùi Quang B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh E ngày 12/3/2011. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Đến tháng 9 năm 2015 anh B bỏ nhà đi đâu không rõ, không liên lạc và không có tin tức gì từ đó đến nay. Chị và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có thông tin gì về anh B. Đến nay đã hơn 02 năm mà không có tin tức xác thực về việc anh B còn sống hay đã chết.
[4] Ngày 12 tháng 12 năm 2018, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã ra thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Bùi Quang B trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Tối cao ngày 12/12/2018 và Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ngày 13/12/2018; thông báo đã được đăng trên báo hằng ngày của Trung ương trong 03 số liên tiếp (số 3 ngày 09/01/2019, số 4 ngày 11/01/2019 và số 5 ngày 16/01/2019) và phát tB trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần liên tiếp (ngày 16/01/2019, ngày 17/01/2019 và ngày 18/01/2019). Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo nhắn tìm anh Bùi Quang B lần đầu tiên là ngày 12 tháng 12 năm 2018, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng và gia đình vẫn không nhận được tin tức gì về anh Bùi Quang B. Vì vậy cần chấp nhận đơn của chị Nguyễn Thị Hồng A về việc yêu cầu tuyên bố anh Bùi Quang B mất tích.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Hồng A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[6] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Hồng A phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT!ĐỊNH:!
- Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự;!
- Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 372, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của chị Nguyễn Thị Hồng A.
- Tuyên bố anh Bùi Quang B, sinh năm 1982, nơi cư trú cuối cùng: Số 16/2 đường Điện Biên Phủ, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng mất tích.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Hồng A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Hồng A phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự chị Nguyễn Thị Hồng A đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0014979 ngày 06 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Hồng A đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Người yêu cầu chị Nguyễn Thị Hồng A có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
- Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi"nhận:"
THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!HỌP!
- VKSND quận Ngô Quyền;
- Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
- UBND phường M, quận N, thành phố H;
- Người yêu cầu;
- Lưu: Hồ sơ việc dân sự.
Đào!Thị!Hương!