- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI LÀ ĐÃ MẤT TÍCH"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 149, Điều 387 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 c…
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2019/QĐST-DS | G, ngày 18 tháng 3 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH GIA LAI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Văn Đính
Thư ký phiên họp: Ông Vương Tấn Lập
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 27/2018/TLST-DS ngày 15 tháng 10 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 02/2019/QĐST-DS ngày 06 tháng 3 năm 2019 , gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Anh Đ; Địa chỉ nơi cư trú: Đội N, Công ty M, xã K, huyện G, tỉnh Gia Lai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Phạm Anh D; Địa chỉ nơi cư trú: Đội N, Công ty M, xã K, huyện G, tỉnh Gia Lai.
- Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Anh D: Anh Phạm Anh Đ – Là cha của cháu Phạm Anh D.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại Đơn yêu cầu đề ngày 15-10-2018, người yêu cầu là anh Phạm Anh Đ trình bày: Anh Phạm Anh Đ và chị Nguyễn Thị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện G, tỉnh Gia Lai vào ngày 13-10-2003 và đã có 01 con chung. Anh Đ và chị T sống chung tại Đội N, Công ty M, xã K, huyện G, tỉnh Gia Lai. Trong thời gian chung sống giữa hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 5-2009, chị T bỏ đi đâu anh Đ không rõ, anh Đ đã cố gắng tìm kiếm, xác định tin tức nhưng không thể xác định được chị T hiện đang ở đâu. Do vậy, anh Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Nguyễn Thị T mất tích.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát khẳng định trong quá trình giải quyết vụ án những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phạm Anh Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai nhận định:
Về thẩm quyền: Xét nội dung yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Phạm Anh Đ phù hợp với quy định của pháp luật. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại Đội N, Công ty M, xã K, huyện G, tỉnh Gia Lai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai theo quy định tại các Điều 27, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Anh Phạm Anh Đ và chị Nguyễn Thị T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện G, tỉnh Gia Lai vào ngày 13-10-2003 và đã có 01 con chung. Anh Đ và chị T sống chung tại Đội N, Công ty M, xã K, huyện G, tỉnh Gia Lai. Trong thời gian chung sống giữa hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đến tháng 5-2009, chị T bỏ đi đâu anh Đ không rõ, anh Đ đã cố gắng tìm kiếm, xác định tin tức nhưng không thể xác định được chị T hiện đang ở đâu. Tại Đơn xác nhận của công an xã K, huyện G đã khẳng định chị Nguyễn Thị T có đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng là Đội N, Công ty M, xã K, huyện G, tỉnh Gia Lai, chị T đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 5-2009 đến nay. Theo yêu cầu của anh Đ, Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai cũng đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 06/2018/QĐ-TA ngày 23-10-2018 và đăng tin tìm kiếm trên báo Trung ương 03 số liên tiếp, đăng tin tìm kiếm trên Đài tiếng nói Việt Nam phát 03 lần trong 03 ngày liên tiếp, đăng tin trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao và cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đến nay vẫn chị T không trở về và không có thông tin xác thực về việc chị T còn sống hay đã chết. Do vậy, có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu của anh Đ về việc tuyên bố chị T mất tích theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Dân sự.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Anh Đ phải chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 149, Điều 387 và Điều 389 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Anh Đ, tuyên bố chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 13 tháng 12 năm 1977, nơi cư trú cuối cùng: Đội N, Công ty M, xã K, huyện G, tỉnh Gia Lai mất tích.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Buộc anh Phạm Anh Đ phải chịu toàn bộ Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0004915 ngày 15-10-2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Gia Lai.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện G; - Các đương sự; - UBND xã K; - Chi cục THADS huyện G; - Lưu VT, HSVA. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (ĐÃ KÝ) Lê Văn Đính |