vanban.org

Quyết định 02/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 08/07/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Hoàng Thị Tr.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Thị Tr phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được đối trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí chị Tr đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B theo biên lai thu tạm ứng lệ phí Tòa án s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Hoàng Thị Tr"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Hoàng Thị Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2019/QĐST- DSB, ngày 08 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẮC KẠN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.

Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Ưu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên họp: Ông Hoàng Hữu Học - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2019 , tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2019/TLST- DS ngày 10 tháng 01 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Thị Tr; sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và quá trình làm việc tại Tòa án, người yêu cầu là chị Hoàng Thị Tr trình bày: Chị xây dựng gia đình với anh Hoàng Văn T, sinh ngày 15/7/1985, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn vào năm 2009. Trong quá trình chung sống, vợ chồng tính cách không hòa hợp, thường xuyên cãi cọ nhau. Đến khoảng tháng 4 năm 2016 anh Hoàng Văn T bỏ nhà đi đến nay không có tin tức gì. Khi đi không thông báo cho gia đình biết. Chị và gia đình đã tìm kiếm rất nhiều lần, nhiều nơi nhưng anh Hoàng Văn T không trở về và đến nay vẫn không có tin tức gì của anh T, không rõ anh T còn sống hay đã chết. Để ổn định cuộc sống, chị yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Hoàng Văn T mất tích để làm căn cứ giải quyết việc ly hôn giữa vợ chồng chị. Vợ chồng chị đã có một con chung, tên là Hoàng Hải D sinh ngày 26/7/2008, hiện nay chị đang nuôi dưỡng.

Chính quyền địa phương xã M, huyện B cung cấp: Anh Hoàng Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Năm 2009, anh T đăng ký kết hôn với chị Hoàng Thị Tr trên cơ sở tự nguyện tại UBND xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Khoảng tháng 4/2016 anh Hoàng Văn T bỏ đi khỏi địa phương, khi đi không thông báo cho chính quyền địa phương biết. Từ khi bỏ đi đến nay không thấy anh T trở về địa phương, địa phương cũng không có tin tức gì của anh T, không biết anh T còn sống hay đã chết. Vợ chồng anh T, chị Tr có 01 con chung tên Hoàng Hải D sinh ngày 26/7/2008, hiện nay chị Tr đang nuôi dưỡng.

Tại phiên họp chị Hoàng Thị Tr giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Tòa án tuyên bố anh Hoàng Văn T mất tích. Ngoài ra chị không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B có quan điểm: Tòa án nhân dân huyện B thụ lý, giải quyết đơn của chị Hoàng Thị Tr yêu cầu tuyên bố anh Hoàng Văn T mất tích là đúng quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự; các Điều 369, 387 và 389 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của chị Hoàng Thị Tr, tuyên bố anh Hoàng Văn T mất tích. Chị Hoàng Thị Tr phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn nhận định:

Về tố tụng: Anh Hoàng Văn T là người bị yêu cầu tuyên bố mất tích có nơi cư trú cuối cùng tại Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn nên yêu cầu của chị Hoàng Thị Tr thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B theo quy định tại các Điều 27, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Hoàng Văn T từ nhỏ sinh sống với gia đình tại Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Đến năm 2009 anh T kết hôn và chung sống với chị Hoàng Thị Tr tại thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Khoảng tháng 4/2016 anh Hoàng Văn T tự ý bỏ nhà đi không thông báo gì cho gia đình và chính quyền địa phương biết. Kể từ khi anh T bỏ đi, chị Tr và gia đình đã áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì về anh T. Hiện nay chị Tr và chính quyền địa phương xã M không có tin tức gì về anh T, không xác định được anh T còn sống hay đã chết. Chị Hoàng Thị Tr yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Hoàng Văn T mất tích, ngoài ra không có yêu cầu nào khác.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án nhân dân huyện B đã xác minh tại nơi cư trú cuối cùng của anh Hoàng Văn T thể hiện: Anh Hoàng Văn T đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 4/2016 đến nay. Khi đi không thông báo với chính quyền địa phương, từ khi anh T bỏ đi đến nay, địa phương không có tin tức gì của anh T, không biết anh T còn sống hay đã chết.

Theo xác minh tại gia đình anh T do bà Vi Thị Đ; sinh năm 1961, trú tại: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn, là mẹ kế của anh Hoàng Văn T, có sự chứng kiến của đại diện UBND xã M, huyện B, cung cấp thông tin như sau: Bà Đ xác nhận anh T đã bỏ nhà đi từ khoảng tháng 4 năm 2016 đến nay không có tin tức gì. Khi đi không thông báo cho gia đình biết. Gia đình đã tìm kiếm nhiều lần, nhiều nơi nhưng vẫn không có tin tức gì về anh T. Nay chị Tr yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với anh T, bà nhất trí, không có ý kiến gì.

Tòa án nhân dân huyện B đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 02/2019/QĐ-TA, ngày 29/01/2019 đối với anh Hoàng Văn T, thời hạn thông báo là 04 tháng. Thông báo được đăng, phát trên Báo Công lý, Đài tiếng nói Việt Nam, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn. Đến nay đã quá 04 tháng mà không có tin tức gì của anh T. Như vậy tính đến nay anh Hoàng Văn T đã biệt tích hơn 03 năm, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh T còn sống hay đã chết. Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự, cần chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị Tr, tuyên bố anh Hoàng Văn T mất tích.

Về lệ phí: Chị Hoàng Thị Tr là người yêu cầu nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, các Điều 149, 367, 370, 371, 372 và 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Hoàng Thị Tr. Tuyên bố anh Hoàng Văn T; sinh năm 1985; nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Hoàng Thị Tr phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, được đối trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí chị Tr đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B theo biên lai thu tạm ứng lệ phí Tòa án số 03651, quyển số 74, ngày 10/01/2019.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị Hoàng Thị Tr có quyền kháng cáo Quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ