vanban.org

Quyết định 02/2019/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 17/10/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng Hữu H.

Tuyên bố chị Trần Thị C, sinh năm 1985, nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã mất tích. Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố chị Trần Thị C mất tích có hiệu lực pháp luật được coi là ngày mất tích của chị Trần Thị C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Quyết định tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng Hữu H.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quyết định số 02/2019/QĐDS-ST
Ngày 17-10-2019
V/v Tuyên bố một người mất tích

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Vũ Mạnh Đức - Thẩm phán.

- Thư ký phiên họp: Bà Dương Thị Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Mai Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2019/TLST-DS ngày 06/5/2019 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo quyết định mở phiên họp số 02/2019/QĐST-VDS-ST ngày 07/10/2019.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Anh Hoàng Hữu H, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Trần Thị C, sinh năm 1985.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

3. Những người tham gia tố tụng khác:

Bà Dương Thị Đ, sinh năm 1950.

Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

Ông Trần Văn T, sinh năm 1952.

Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Anh Hoàng Hữu H yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Trần Thị C, sinh năm 1985.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp. Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn nhận định:

1. Về thẩm quyền giải quyết:

Yêu cầu về việc tuyên bố một người mất tích là loại việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 3 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích cư trú tại xã Đ, huyện B nên căn cứ khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

2. Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đơn yêu cầu đề nghị và bản tự khai của người yêu cầu anh Hoàng Hữu H khai: Anh Hoàng Hữu H và chị Trần Thị C chung sống với nhau từ năm 2005 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện B. Trong có quá trình chung sống anh Hợi và chị Chinh có một người con tên là Hoàng Phương Trà, sinh ngày 05/11/2006. Đến tháng 5/2016, chị Trần Thị C đã bỏ nhà đi cho đến nay không có tin tức gì. Ngày 02/10/2018, Công an xã Đ, huyện B đã có xác nhận là chị Trần Thị C có hộ khẩu thường trú tại Thôn N, xã Đ, huyện B; bỏ nhà đi từ tháng 5/2016 không có mặt tại địa phương. Anh Hoàng Hữu H đã áp dụng tất cả các biện pháp tìm kiếm đối với chị Trần Thị C nhưng không có kết quả. Vì vậy anh Hoàng Hữu H có đơn đề nghị Tòa án tuyên bố chị Trần Thị C mất tích theo quy định của pháp luật. Tòa án đã thụ lý và giải quyết việc tuyên bố mất tích, trong quá trình giải quyết Tòa án đã đi xác minh tại địa phương nơi chị Trần Thị C có hộ khẩu thường trú, nơi cư trú cuối cùng và nơi bố mẹ để chị Trần Thị C sinh sống. Trong quá trình xác minh không ai biết chị Trần Thị C đang ở đâu. Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về chị Trần Thị C là đã mất tích và đăng trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 384, 385 của Bộ luật tố tụng dân sự, đến nay đã quá 04 tháng kể từ ngày đăng tin lần đầu nhưng cũng không nhận được tin tức gì của chị Trần Thị C. Nên cần chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng Hữu H tuyên bố chị Trần Thị C mất tích. Vì chị Trần Thị C đã biệt tích 02 năm liền trở lên không có tin tức gì.

Những người tham gia tố tụng khác như bà Dương Thị Đ là mẹ đẻ anh Hoàng Hữu H và ông Trần Văn T là bố đẻ của chị Trần Thị C cũng thừa nhận chị Trần Thị C đã bỏ nhà từ năm 2016 đến nay không biết đi đâu làm gì, còn sống hay đã chết, không ai biết tin tức gì và cũng không có cách nào liên lạc được

Như vậy, đề nghị của anh Hoàng Hữu H về việc yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Trần Thị C là có căn cứ, cần chấp nhận.

3. Về án phí:

Anh Hoàng Hữu H là người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu: Về trình tự, thủ tục tố tụng Thẩm phán, thư ký thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng Hữu H về việc yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Trần Thị C.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 387; Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 68 của Bộ luật dân sự. Khoản 1 Điều 4; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Hoàng Hữu H.

Tuyên bố chị Trần Thị C, sinh năm 1985, nơi cư trú cuối cùng: Thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã mất tích.

Kể từ ngày quyết định của Tòa án tuyên bố chị Trần Thị C mất tích có hiệu lực pháp luật được coi là ngày mất tích của chị Trần Thị C.

2. Về lệ phí: Anh Hoàng Hữu H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2015/0000156 ngày 25/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B. Anh Hoàng Hữu H đã nộp đủ.

3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định này.

Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ