- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Việc dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Trần S.
- Căn cứ chính? Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Sè: 02/2018/Q§DS -ST Ngày 12/3/2018 V/v“Tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC, TỈNH QUẢNG NAM
-Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Trung Thành-Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Ông Ngô Tấn Nhựt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 06/2017/TLST-VDS ngày 04 tháng 10 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số 02/2018/QĐPH-ST ngày 02 tháng 3 năm 2018.
1.Người yêu cầu:
Ông Trần S, sinh năm: 1972
Trú tại: Thôn 02, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích ngày 12 tháng 9 năm 2017 và các lời khai tiếp theo người yêu cầu ông Trần S trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị M tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. Sau khi cưới, vợ chồng ông chung sống được 4 năm tại tỉnh An Giang, đến năm 2011 thì về quê ông S tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam chung sống được 6 tháng thì bà Nguyễn Thị M bỏ nhà đi một tuần. Đến tháng 6 năm 2014, thì bà Nguyễn Thị M bỏ nhà đi luôn đến nay không về, ông S đã nhiều lần tìm kiếm bằng nhiều phương tiện thông tin nhưng vẫn không có thư từ, tin tức gì của bà M.
Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố mất tích đối với: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1971. Nơi ĐKHKTT: Thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 02, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước phát biểu quan điểm: Trong quá trình thụ lý giải quyết, Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 361, 362, 365, 366, 388 Bộ luật tố tụng dân sự. Xét yêu cầu của ông Trần S là đúng pháp luật, đề nghị áp dụng Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 370, 389 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị M.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước nhận định:
Trước khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị M thì ông S đã yêu cầu tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị M. Toà án nhân dân huyện Tiên Phước đã ra Quyết định số 02/2017/QĐDS-ST ngày 06/6/2017 về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Nguyễn Thị M.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị M, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích theo quy định tại khoản 1 Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời việc công bố thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 384 và Điều 385 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo đó thông báo tìm kiếm đã được đăng trên Báo Công lý - Tòa án nhân dân Tối cao trên 03 số báo liên tiếp 85, 86, 87 ra các ngày 25/10/2017, 27/10/2017 và ngày 01/11/2017 và Đài tiếng nói Việt Nam vào lúc 11 giờ 50 phút các ngày 31/10/2017, 01/11/2017 và ngày 02/11/2017 nhưng đến nay vẫn không có tin tức xác thực của bà M.
Xét thấy ngày biết tin tức cuối cùng của bà Nguyễn Thị M là tháng 6 năm 2014 đến nay đã hơn hai năm. Như vậy, bà M đã biệt tích hơn hai năm liền nên Tòa án chấp nhận đơn của ông S về yêu cầu tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị M là có cơ sở, đúng pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự.
Ông S thuộc diện hộ nghèo nên được miễn tiền lệ phí sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự; các Điều 149, 369, 370, 371, 372, 389 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Chấp nhận yêu cầu của ông Trần S.
Tuyên bố mất tích đối với bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1971
Nơi ĐKHKTT: Thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 02, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Về quan hệ tài sản: Ông S không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về lệ phí: Ông Trần S được miễn nộp tiền lệ phí sơ thẩm.
Người yêu cầu có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - Người yêu cầu; - TAND tỉnh; - UBND T.Tr N huyện T, tỉnh An Giang; - UBND xã T huyện T, tỉnh Quảng Nam; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Lê Trung Thành |