- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị P: Tuyên bố anh Phạm Trung N, sinh ngày 28/12/1986, nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố K, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TƠ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2018/QĐDS-ST Ngày 20/4/2018 V/v: “Tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Văn Ngoan- Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Ông Trương Công Bình- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Ông Rô Đăm Quyết- Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 4 năm 2018 tại Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2017/TLST-VDS ngày 19 tháng 10 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2018/QĐPH-ST ngày 09 tháng 4 năm 2018.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Hà Thị P- Sinh năm 1988;
Địa chỉ: Xóm K, xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình.
Người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Đinh Thị T- Sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi- là người đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu (Văn bản ủy quyền ngày 24 tháng 10 năm 2017).
2. Người bị yêu cầu tuyên bố mất tích: Anh Phạm Trung N- Sinh ngày 28/12/1986;
Địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
Nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Tổ dân phố K, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Năm 2007, chị P kết hôn với anh Phạm Trung N, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Quá trình chung sống, vợ chồng chị P liên tục xảy ra mâu thuẫn. Đến năm 2011 anh N chuyển vào ở cùng cha là ông Phạm Trung N tại tổ dân dân phố K, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, sinh sống được một thời gian thì đến tháng 6/2014 anh N bỏ nhà, bỏ địa phương đi từ đó đến nay không về lại địa phương, chị P đã tìm kiếm anh Nghĩa nhiều nơi và cũng đã có đơn yêu cầu Tòa án Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với anh N, Tòa án đã thụ lý việc dân sự ngày 18/7/2016 và đã ra quyết định giải quyết việc dân sự, thông báo tìm kiếm anh N trên Đài tiếng nói Việt Nam và Báo Công lý, nhưng vẫn không có tin tức gì của anh N.
Nay chị P yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phạm Trung N mất tích. Để chị có cơ sở pháp lý cho việc khởi kiện xin ly hôn sau này đối với anh N. Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.
4. Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên họp:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết việc dân sự, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Người yêu cầu, người đại diện hợp pháp của người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã chấp hành đúng quy định pháp luật, kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm Thẩm phán tiến hành phiên họp.
Về nội dung: Căn cứ vào hồ sơ vụ việc, các chứng cứ, tài liệu do người yêu cầu nộp và Tòa án đi thẩm tra xác minh, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu, nên đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự; các Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016, xét chấp nhận yêu cầu tuyên bố anh Phạm Trung N mất tích của chị P. Chị P và người đại diện hợp pháp của chị P không yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích nên đề nghị không xem xét. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị P phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền của Tòa án: Xét đơn của chị Hà Thị P yêu cầu tuyên bố anh Phạm Trung N mất tích là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 13, quyển số: 01 ngày 08 tháng 9 năm 2007 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình thì xác định chị P và anh N có quan hệ vợ chồng. Do đó, chị P có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố anh N mất tích. Qua xác minh, thu thập chứng cứ thì nơi cư trú cuối cùng của anh N là tổ dân phố K, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, đại diện gia đình và chính quyền địa phương xác nhận hiện nay vẫn không có tin tức gì của anh N. Ngày 06/11/2017 Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích, chị P đã thông qua Báo công lý và Đài tiếng nói Việt Nam đăng tải và phát tin tìm kiếm anh N (trong hạn 04 tháng). Tuy nhiên kể từ đó đến nay, đã quá thời hạn thông báo nhưng tin tức về anh N vẫn bặt âm vô tín. Xét thấy, thời gian biệt tích trên 02 năm của anh N tại địa phương là thực tế, chị P và anh N có nơi cư trú cụ thể, cũng như nơi cư trú cuối cùng của người biệt tích đã được xác định; lý do việc dân sự mà chị P yêu cầu là phù hợp với quy định pháp luật và thực tế. Do đó, xét yêu cầu của chị P về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phạm Trung N mất tích là có cơ sở nên được chấp nhận, là phù hợp với quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình tố tụng và tại phiên họp, chị P và người đại diện hợp pháp của chị P chỉ yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phạm Trung N mất tích, ngoài ra, không có bất kỳ ý kiến gì về việc yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích, nên không xét.
Ý kiến của kiểm sát viên về tố tụng và nội dung việc dân sự là phù hợp nên được Tòa án chấp nhận.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị P phải chịu 300.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự; các Điều 27, Điều 35, Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Tuyên bố:
1.Chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị P: Tuyên bố anh Phạm Trung N, sinh ngày 28/12/1986, nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố K, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Chị Hà Thị P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng lệ phí mà chị P đã nộp theo biên lai thu tiền số 06390 ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tơ.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện Ba Tơ; - Chi Cục THADS huyện Ba Tơ; - Niêm yết; - Đương sự; - UBND thị trấn Ba Tơ, - Lưu. | THẨM PHÁN Ngô Văn Ngoan |