vanban.org

Quyết định 02/2017/QĐVDS-ST — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trương Thị Ngọc T về việc: “Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con”.

Công nhận: ông Nguyễn Đình H (đã chết) và bà Thái Thị Th 1 (đã chết); cùng nguyên quán xã QA, huyện QS, tỉnh QN là cha, mẹ ruột của bà Trương Thị Ngọc T. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: 300.000 đồng (B trăm nghìn đồng) bà Trương Thị Ngọc T phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha, mẹ cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trương Thị Ngọc T về việc: “Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2017/QĐVDS-ST
Ngày: 11/12/2017
V/v: Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: ông Nguyễn Văn Thọ - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: bà Nguyễn Thị Mai Loan - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quế sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên họp: ông Nguyễn Quyền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11/12/2017, tại Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2017/TLST - VHNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2017 về yêu cầu “Xác định cha, mẹ cho con” theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2017/QĐPH - ST ngày 27 tháng 10 năm 2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: bà Trương Thị Ngọc T, sinh năm 1963. Có mặt

Địa chỉ: thôn Châu S 3, xã QA, Hyện QS, tỉnh QN.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Huỳnh Thị Nh, sinh năm 1935. Vắng mặt

Hộ khẩu thường trú: số 85/15 đường Bình Thành, kH phố 4, phường Bình H B, quận B T, thành phố HCM.

Địa chỉ: Buôn Cuôr D A, xã CDg, huyện C, tỉnh ĐL.

- Ông Nguyễn Đình Tu, sinh năm 1953. Có mặt

- Ông Nguyễn Đình Th, sinh năm 1963. Có mặt

- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1970. Có mặt

Cùng địa chỉ: thôn Châu S 3, xã QA, huyện QS, tỉnh QN.

- Bà Nguyễn Thị Tú B, sinh năm 1952. Có mặt

Địa chỉ: tổ 11, thị trấn TA, huyện HĐ, tỉnh QN.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Trong đơn yêu cầu gởi đến Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn đề ngày 04/7/2017, bà Trương Thị Ngọc T, sinh năm 1963, địa chỉ: thôn Châu S 3, xã QA, huyện QS, tỉnh QN trình bày: Trong thời kỳ chiến tranh, cha, mẹ bà là ông Nguyễn Đình H và bà Thái Thị Th 1 sinh được ông Nguyễn Đình Tu, ông Nguyễn Đình Th, bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị Tú B và bà Tuyết. Vào năm 1968, ông Nguyễn Đình H hy sinh. Năm 1969, do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, khi ông Trương Thành Q và bà Hồ Thị Nh (tại phiên họp bà T xin đính chính là bà Huỳnh Thị Nh) xin bà T về nuôi dưỡng thì mẹ là Thái Thị Th 1 đồng ý. Ông Q đặt tên cho bà Tlà Trương Thị Ngọc T. Vào năm 1973, bà Thái Thị Th 1 chết.

Nay, bà Tcó nguyện vọng xác định cha, mẹ ruột của mình và cải sữa lại họ tên của mình, nên làm đơn yêu cầu Toà án xác định ông Nguyễn Đình H (đã chết) và bà Thái Thị Th 1 (đã chết); cùng nguyên quán xã QA, huyện QS, tỉnh QN là cha, mẹ ruột của bà Tuyết.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn nhận định: Lời trình bày của bà Trương Thị Ngọc T phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ như: các văn bản tự khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như ông Nguyễn Đình Tu, ông Nguyễn Đình Th, bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị Tú B là anh chị em ruột của bà Tvà lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hỳnh Thị Nh là mẹ nuôi của bà Tuyết. Trong thời kỳ chiến tranh, cha, mẹ bà Tlà ông Nguyễn Đình H và bà Thái Thị Th 1 sinh được ông Nguyễn Đình Tu, ông Nguyễn Đình Th, bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị Tú B và bà Tuyết. Vào năm 1968, ông Nguyễn Đình H hy sinh. Năm 1969, do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, khi ông Trương Thành Q và bà Hồ Thị Nh xin bà Tvề nuôi dưỡng thì mẹ là Thái Thị Th 1 đồng ý. Ông Q đặt tên cho bà T là Trương Thị Ngọc T. Vào năm 1973, bà Thái Thị Th 1 chết. Ông Trương Thành Q chết vào ngày 20/3/2017.

Vì vậy, đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, Quảng Nam xác định ông Nguyễn Đình H (đã chết) và bà Thái Thị Th 1 (đã chết) là cha, mẹ ruột của bà Tcó căn cứ pháp luật, Tòa án cần áp dụng Điều 29, Điều 35, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 88, Điều 90, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 39 Bộ luật dân sự, chấp nhận đơn yêu cầu xác định cha, mẹ cho con của bà Trương Thị Ngọc T.

Lệ phí dân sự sơ thẩm bà Trương Thị Ngọc T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 29, Điều 35, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 88, Điều 90, Điều 101, Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 39 Bộ luật dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trương Thị Ngọc T về việc: “Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con”.

Công nhận: ông Nguyễn Đình H (đã chết) và bà Thái Thị Th 1 (đã chết); cùng nguyên quán xã QA, huyện QS, tỉnh QN là cha, mẹ ruột của bà Trương Thị Ngọc T.

Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: 300.000 đồng (B trăm nghìn đồng) bà Trương Thị Ngọc T phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng bà T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0006481 ngày 27 tháng 9 năm 2017 (Chị T đã nộp đủ lệ phí).

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định (11/12/2017). Đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày từ ngày nhận được quyết định hoặc được thông báo, niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ