vanban.org

Quyết định 02/2017/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND TX. Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 07/08/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu tuyên bố một

người mất tích” của chị Phan Thị Nhật N đối với anh Hoàng Văn H. Tuyên bố anh Hoàng Văn H mất tích. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu tuyên bố một
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/2017/ QĐDS - ST
Ngày 07-8-2017
V/v: “Tuyên bố một người mất tích”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Hoàng Minh Chức – Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Ông Bùi Văn Khanh – Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk: Ông Nguyễn Văn Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 13/2017/TLST-VDS ngày 01 tháng 03 năm 2017 về yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp số: 13/2017/QĐST-VDS ngày 31/7/2017.

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự : Chị Phan Thị Nhật N, sinh ngày 17/9/1993. Có mặt.

Địa chỉ: Tổ X, khu vực Y, phường Trần Quang D, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1988.

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Tân T, xã Ea B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Chị Phan Thị Nhật N yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với anh Hoàng Văn H.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Chị Phan Thị Nhật N và anh Hoàng Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện vào ngày 25/7/2011 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Trần Quang D, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn, anh H sống cùng gia đình chị N tại tổ X, khu vực Y, phường Trần Quang D, thành phố Q, tỉnh Bình Định đến tháng 02 năm 2012 thì anh H bỏ đi trở về nhà bố mẹ mình tại thôn Tân T, xã Ea B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk cư trú. Chị N đã đến tìm tại nhà bố mẹ anh H thì được biết, anh H bỏ đi khỏi nơi cư trú không để lại địa chỉ liên lạc. Kể từ ngày anh H bỏ nhà đi, chị N và gia đình đã đi tìm kiếm nhiều nơi, nhưng không có kết quả.

Ngày 28/02/2017, chị Phan Thị Nhật N có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ tuyên bố anh Hoàng Văn H mất tích.

Như vậy,đơn yêu cầu tuyên bố anh H mất tích của chị N phù hợp với quy định tại Điều 387 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Việc Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ thụ lý, giải quyết là phù hợp với Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của chị Phan Thị Nhật N:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là anh Hoàng Văn H đã đăng trên báo Công Lý 03 số liên tiếp vào các ngày 29/3/2017; 31/3/2017; 05/4/2017 và trên Đài tiếng nói Việt Nam 03 lần liên tiếp vào các ngày 04/4/2017; 05/4/2017; 06/4/2017 nhưng cho đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhắn tìm không có tin tức gì của anh H.

Tại phiên họp, chị Phan Thị Nhật N vẫn giữ nguyên yêu cầu tuyên bố anh Hoàng Văn H mất tích.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ tuyên bố anh Hoàng Văn H mất tích là có cơ sở cần chấp nhận.

Xét yêu cầu của chị Phan Thị Nhật N, Tòa án xét thấy anh Hoàng Văn H đã biệt tích khỏi nơi cư trú từ ngày 01/01/2013. Kể từ ngày biệt tích đến nay, mặc dù chị N đã tìm kiếm và Tòa án đã dùng các biện pháp thông báo tìm kiếm anh H theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì về anh H hiện nay cư trú ở đâu, còn sống hay đã chết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 67, Điều 389 Bộ luật Tố tụng Dân sự, chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị Nhật N tuyên bố anh Hoàng Văn H mất tích.

Về lệ phí: Chị Phan Thị Nhật N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 3 Điều 27, Điều 35, khoản 2 Điều 67; Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 387, Điều 388, Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 35, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc “Yêu cầu tuyên bố một

người mất tích” của chị Phan Thị Nhật N đối với anh Hoàng Văn H.

Tuyên bố anh Hoàng Văn H mất tích.

Về lệ phí việc dân sự: Chị Phan Thị Nhật N phải chịu 300.000đ lệ phí việc dân sự, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ chị Phan Thị Nhật N đã nộp tạm ứng lệ phí việc dân sự theo biên lai số 0043241 ngày 01/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Chị Phan Thị Nhật N phải chịu 2.850.000đ lệ phí đăng thông báo, nhắn tin tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích (Chị N đã nộp xong).

Quyền kháng cáo: Người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: “ Trường hợp bản án , quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự , người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án , quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.”

Cỡ chữ