- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyen bo mat tich"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố anh Dương Văn H mất tích kể từ ngày 01/4/2014.
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 02/2017/QĐDS -ST Ngày 15/5/2017 V/v: “Tuyên bố một người mất tích”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Văn Toàn - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Hà Thị Vân Anh - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên họp: Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 07/2016/TLST-VDS, ngày 09/12/2016, Về yêu cầu “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 02/2017/QĐ-VDS, ngày 20/4/2017; quyết định hoãn phiên họp số 02/2017/QĐ-VDS ngày 26/4/2017.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Chu Thị H, sinh năm: 1988.
Trú tại: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Yêu cầu tuyên bố anh Dương Văn H mất tích, cụ thể như sau:
Chị Chu Thị H và anh Dương Văn H kết hôn vào tháng 6/2010, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, được đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã S, huyện S. Sau ngày cưới chị H theo anh H về chung sống cùng gia đình anh H tại thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của vợ chồng ban đầu có hạnh phúc, nhưng chỉ được một thời gian ngắn. Sau đó vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến cãi chửi nhau, đến tháng 9/2012 anh H đã tự ý bỏ nhà đi đâu chị không biết, sau đó khoảng tháng 3 năm 2014 anh H có quay về địa phương 1 lần xong bỏ đi luôn, từ đó đến nay anh H không quay lại lần nào nữa, chị có đi tìm khắp nơi nhưng cũng không ai biết anh H đi đâu hay làm gì cho nên chị đã làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh H mất tích.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ việc của chị Chu Thị H, Toà án đã thông báo nhắn tin trên phương tiện thông tin đại chúng, nay đã quá 04 tháng nhưng không thấy anh H trở về nên chị yêu cầu Toà án nhân dân huyện S tuyên bố anh Dương Văn H mất tích kể từ tháng 3/2014; Về con chung: Có 02 con chung là cháu Dương Văn Q, sinh ngày 11/04/2011 và cháu Dương Văn H, sinh ngày 20/10/2012. Kể từ khi anh H bỏ đi cả hai cháu đều đang ở cùng chị nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Chị H xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện S nhận định:
Chị Chu Thị H và anh Dương Văn H được tự do tìm hiểu, được đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau ngày cưới anh chị sinh sống tại thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung ban đầu có hạnh phúc nhưng chỉ được một thời gian ngắn vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn, chung sống với nhau đến tháng 9/2012 anh H đã tự ý bỏ đi không rõ địa chỉ, sau đó khoảng tháng 3 năm 2014 anh H có quay về địa phương 1 lần xong bỏ đi luôn, từ đó đến nay cũng không có tin tức gì. Ngày 02/12/2016 Tòa án nhân dân huyện S đã nhận được đơn đề nghị của chị H về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố anh H mất tích và đề nghị Toà án áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng bằng hình thức đăng báo Công lý nhắn tin 03 số liên tiếp (101, 102, 103) ra các ngày 16, 21, 23/12/2016; thông báo nhắn tin trên đài tiếng nói Việt Nam phát hồi 11 giờ 55 phút các ngày 22, 23, 24/12/2016 theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đến nay đã quá 04 tháng nhưng anh Dương Văn H vẫn không trở về.
Qua điều tra xác minh tại địa phương nơi anh Dương Văn H cư trú cuối cùng thể hiện: Chị Chu Thị H có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, tháng 6/2010 chị H kết hôn với anh Dương Văn H – trú tại: thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Sau khi đăng ký kết hôn ,chị H đã làm thủ tục nhập khẩu về xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Sau ngày cưới chị H và anh H có chung sống với nhau tại thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang được một thời gian thì đến tháng 9/2012 anh H bỏ đi đâu không rõ địa chỉ. Tháng 3 năm 2014 anh H có quay về địa phương 1 lần, sau đó anh H bỏ đi tiếp từ tháng 3 năm 2014, từ đó đến nay không thấy anh H quay lại địa phương lần nào. Khi bỏ đi anh H không khai báo gì với chính quyền địa phương, không làm thủ tục tạm vắng và cũng không cắt chuyển khẩu đến địa phương nào. Nay chính quyền địa phương không biết anh H làm gì, ở đâu.
Như vậy có căn cứ để xác định nơi cư trú cuối cùng của anh Dương Văn H là thôn N, xã S, huyện S, chị H không nhớ chính xác ngày cuối cùng anh H bỏ đi biệt tích là ngày nào mà chỉ nhớ là tháng 3/2014. Vì vậy, xác định ngày anh H mất tích là ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin cuối cùng (tức là ngày 01/4/2014) là phù hợp quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Chu Thị H về việc tuyên bố anh Dương Văn H mất tích là phù hợp với quy định của pháp luật
Về con chung, tài sản, đất đai, công nợ chung: Chị Chu Thị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Chị Chu Thị H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định.
Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện S đề nghị Toà án nhân dân huyện S căn cứ vào điều 68 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của chị Chu Thị H tuyên bố anh Dương Văn H mất tích kể từ ngày 01/4/2014.
Từ những nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 27; Điều 144, 149, 369, 370, 371, 372, 389 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng điều 68 Bộ luật Dân sự; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 quy định về án phí, lệ phí Toà án;
1. Tuyên bố anh Dương Văn H mất tích kể từ ngày 01/4/2014.
2. Lệ phí việc dân sự phải nộp: Chị Chu Thị H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), theo biên lai số 0002723, ngày 09/12/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương.
Chị Chu Thị H được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện S; - Chi cục THADS huyện S; - UBND xã S; - Người yêu cầu; - Lưu HS. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Văn Toàn |