vanban.org

Quyết định 02/2017/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 07/09/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Phạm Văn T.

Quyết định tuyên bố mất tích đối với: Hà Thị H - sinh năm 1971. Nơi cư trú cuối cùng: Khối 3, thị trấn T, huyện S, tỉnh Thanh Hoá. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Về việc anh Phạm Văn T có đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Phạm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 388 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HUYỆN S
Tỉnh Thanh Hoá

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 02/ 2017/ QĐDS - ST
Ngày: 07 - 9 - 2017
V/v: “tuyên bố một
người mất tích”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thoan - Thẩm phán .

Thư ký phiên họp: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân Huyện S, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện S tham gia phiên họp:

Bà: Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Huyện S-tỉnh Thanh Hóa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/ 2017/ TLST - VDS ngày 05 tháng 4 năm 2017 về yêu cầu: “ tuyên bố một người mất tích”. Theo quyết định mở phiên họp số: 02/ 2017/ QĐPH - ST ngày 23 tháng 8 năm 2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Phạm Văn T - SN : 1965.

Địa chỉ: Ki ốt số 5, đường C, khu phố 10, phường T, thị xã S, tỉnh Thanh Hoá.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hà Thị H - sinh năm: 1971. Nơi cư trú cuối cùng: Khối 3, thị trấn T, huyện S, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên họp có mặt anh Phạm Văn T.

Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Anh Phạm Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Hà Thị H vợ anh “ mất tích”.

Anh T và chị H tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 12/ 10/ 1991 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S. Trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống rồi dẫn đến mâu thuẫn căng thẳng. Đến tháng 12/ 1993 chị H bỏ nhà đi cho đến nay không về và cũng không có tin tức gì của chị H, anh T và gia đình đã tìm kiếm nhiều lần, nhiều năm và ở nhiều nơi nhưng không có kết quả và cũng không có tin tức gì về chị H.

Ngày 28 tháng 3 năm 2017 anh T đã nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam tìm kiếm chị Hà Thị H nhưng vẫn không nhận được tin tức gì của chị H nên anh yêu cầu Toà án nhân dân Huyện S tuyên bố chị Hà Thị H mất tích.

Ngày 17/ 4/ 2017 thực hiện quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích nên Toà án nhân dân Huyện S tiếp tục nhắn tin trên Đài tiếng nói Việt Nam và báo Công lý để tìm kiếm chị Hà Thị H nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Hà Thị H.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp. Tòa án nhân dân Huyện S nhận định.

Yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Phạm Văn T đối với chị Hà Thị H tại Toà án nhân dân Huyện S là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự.

Qua các tài liệu thu thập được trong hồ sơ, có căn cứ để xác định chị Hà Thị H đã biệt tích 02 năm liền trở lên, và trước khi có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố mất tích đối với Hà Thị H, anh Phạm Văn T đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo qui định của pháp luật.

Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của Phạm Văn T. Toà án đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Hà Thị H, nhưng hết thời hạn công bố thông báo theo khoản 2 điều 388 BLTTDS mà vẫn không có tin tức gì của chị Hà Thị H.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện S phát biểu:

Về chấp hành pháp luật: Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích Tòa án đã thông báo hợp lệ, đúng thời hạn cho các đối tượng có liên quan. Việc thu thập chứng cứ đúng quy định. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý đơn đúng quy định.

Về quan điểm giải quyết: Đề nghị Toà án áp dụng các Điều 68 Bộ luật dân sự; Điều 149; Điều 361; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; khoản 2,4 Điều 388 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu của Phạm Văn T về việc tuyên bố chị Hà Thị H - là vợ anh Phạm Văn T - mất tích .

Xét yêu cầu tuyên bố một người mất tích của Phạm Văn T đối với chị Hà Thị H là có cơ sở. Nghĩ nên căn cứ vào điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự để chấp nhận đơn yêu cầu của anh Phạm Văn T và tuyên bố mất tích đối với chị Hà Thị H là phù hợp.

Về lệ phí: anh Phạm Văn T phải nộp lệ phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên .

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điều 68 Bộ luật dân sự.

Căn cứ: Điều 149; Điều 361; Điều 369; Điều 370; Điều 371; Điều 372; khoản 2, 4 Điều 388; Điều 389 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ: Điều 4; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số: 326/ 2016/ UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mục 1 phần I Danh mục Lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Phạm Văn T.

Quyết định tuyên bố mất tích đối với: Hà Thị H - sinh năm 1971.

Nơi cư trú cuối cùng: Khối 3, thị trấn T, huyện S, tỉnh Thanh Hoá.

Về lệ phí: Anh Phạm Văn T phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) lệ phí yêu cầu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số AA/ 2011/ 02428 ngày 04/ 4/ 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện S. Anh T đã nộp đủ tiền lệ phí .

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh T có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ